N G H I Ê N Đ A N

 

             I-

Cụ cố ngoại tôi xuất thân gia đình Nho học từ miền Trong di cư ra Bắc lập nghiệp ở đất Hạ Đan. Nghe kể lại ngày trẻ cụ được bề trên cho theo đòi nghiên bút nhưng bởi tính tự do không chịu khuôn phép nên lần thi nào cũng bị đánh trượt vì phạm qui. Lần cuối cùng cụ lều chõng đi thi tuổi đã ngoài bốn mươi vẫn phạm qui bị quan trường nọc ra đánh năm roi. Vừa uất vừa xấu hổ cụ quyết định bỏ quê ngược sông Cái đến phủ Lâm Thao làm nghề gõ đầu trẻ. Ngày đó nhiều người đã theo Tây học nhưng vẫn còn vô số tình nguyện làm môn đồ Khổng Nho.

 

Cụ cố ngoại tôi lúc đầu chưa lên dựng nghiệp ở Hạ Đan mà dạy học ở Chè cách phủ lị vài ba chục cây số. Mặc dù không đỗ đạt nhưng cụ ngoại tôi nổi tiếng miền Trong miền Ngoài về tài học được Chánh tổng Lộ đón về ở trong nhà vừa dạy đám học trò trong tổng vừa kèm thêm cho hai đứa cháu. Người nhà cụ Chánh gọi cụ cố tôi là Thầy đồ.

Chánh tổng Lộ có người cháu tên Mua làm lí trưởng làng Chè vừa mới cưới vợ được ít lâu tên là Lụa xinh đẹp như tiên giáng trần. Mua làm Lí trưởng làng Chè nhưng thiếu học vấn nhờ có cụ Chánh che chở cậy thế mà lấy được vợ đẹp. Mua muốn tỏ mình là người cao nhã sành văn chương nên thi thoảng vẫn qua nhà cụ Chánh mời Thầy đồ về uống rượu ngâm thơ.

Thầy đồ ra Bắc một thân một mình chưa kết bạn được với ai nên khi ông Lí Mua mời thì nhận lời ngay. Đấy cũng là lần đầu tiên Thầy đồ nhìn thấy cô Lụa thấy gương mặt trái xoan với đôi mắt trong veo như nước giếng thơi. Chàng nho sinh bốn mươi tuổi trời bỗng có cảm giác đói và khát của kẻ lữ thứ. Dường như cái đói cái khát ấy dai dẳng và kéo dài suốt cả cuộc đời. Thầy giáo cùng Lí Mua ngồi uống hết cút rượu nếp cái hoa vàng còn giảng thơ cho Lí Mua nghe mà cái sự đói khát không hết. Lí trưởng làng Chè đêm ấy cũng uống nhiều nằm lăn ngay ra giường không dậy nổi để tiễn chân Thầy đồ tuy vậy vẫn còn đủ tỉnh táo bảo vợ biếu thầy một chai rượu nếp hoa vàng làm quà.

Có thể đó là duyên trời cũng có thể do ma xui quỉ khiến vì cút rượu đó mà sẽ xẩy ra câu chuyện sau này. Thầy đồ chân nam đá chân chiêu ra tới cổng thì cô Lụa chạy theo thở hổn hển nói:

"Thưa thầy thầy cầm chai rượu này về làm quà."

Thầy đồ gặp người đẹp liền bị hớp mất hồn say rượu thì ít say người thì nhiều mới đưa tay đón chai rượu rồi mượn rượu nắm lấy tay người đẹp.

Cô Lụa vội rút tay lại nói:

"Thầy ơi thầy mau về nhà đi kẻo sương xuống nhiều lạnh."

Thầy đồ đành phải buông tay người đẹp ôm chai rượu vào lòng liêu xiêu bước đi nhưng mỗi bước lại mỗi quay nhìn lại dù cánh cổng đã đóng kín từ lâu. Thầy trở về gian nhà trên do Chánh tổng Lộ dành riêng cho ở đặt chai rượu xuống chiếc bàn gỗ nghiến bóng loáng chấp tay vái một vái lẩm nhẩm hát trong miệng: Ơi này rượu tình/ ơi này rượu nghĩa/ ơi này tay tiên/Tay tiên rót chén/ chén rượu đào/ đổ đi thì tiếc/ đổ đi thì tiếc/ uống vào thì say...

Đoạn rồi thầy đánh lửa thắp nến cẩn thận lấy từ trong tay nải ra hai chiếc chén sứ mầu men ngọc đặt ngay ngắn lên bàn. Ánh sáng nến lung linh thoáng một ngọn gió đưa hương nhài lướt qua căn phòng thầy giáo bỗng thấy cô Lụa từ phía sau chai rượu bước ra. Thầy vội rụi mắt tưởng mình ngủ mơ. Cô Lụa cười nụ cười ngọt ngào quyến rũ. Thầy muốn bước tới đỡ cô nhưng cô ngăn lại. Thầy bèn cầm chai rượu nhẹ rót xuống hai chiếc chén. Giòng rượu sóng sánh toả mùi hương thơm dịu của nếp cái hoa vàng đong đầy chiếc chén rung rinh mãi không yên. Thầy nói với cô Lụa chắc là tôi có duyên với cô nên hình cô mới theo tôi về đây cô đúng là tiên giáng trần chúng ta uống một chén mừng gặp mặt.

Cô Lụa giọng nhỏ nhẻ hơi thở thơm tho như hương nhài tinh khiết và thanh tao. Cô nói không biết em và thầy có duyên hay không nhưng em còn nhớ cha em từng dạy rằng hữu duyên thiên lí năng tương ngộ em xin uống với thầy một chén. Thầy giáo dốc một hơi cạn nhìn sang thấy chén của cô Lụa vẫn đầy bèn nói sao cô không uống. Cô Lụa nói nhờ thày đỡ hộ. Thầy đồ đỡ chén rượu từ tay cô dốc cạn.

Càng uống thầy càng có hứng. Hình ảnh cô Lụa hoà vào với rượu đốt cháy trái tim thầy. Thầy đứng dậy lấy bút mực viết hai câu thơ: Lụa xanh chắt tự sắc trời/ Dịu dàng buộc trói tim người lãng du... Chữ thầy viết rất đẹp. Con chữ như có linh tính người xem nhìn vào cảm giác như chúng đang ngọ nguậy muốn thoát ra khỏi tờ giấy điệp đối thoại với mình. Hai câu thơ thầy viết bằng chữ Nho nét bút thật khác thường. Thầy nâng hai câu thơ ngang mày đưa tặng cô Lụa. Cô Lụa e thẹn nói em chỉ là người quê mùa đâu xứng với thầy mà nhận hai câu thơ của này. Thầy bảo cô là tiên giáng thế trời cho tôi gặp cô là có ý tác thành nếu cô không nhận thơ thế nghĩa là... nghĩa là... Tôi sẽ liệm xác mình bằng hai câu thơ này.

Sáng hôm sau người nhà cụ Chánh vào dọn dẹp thấy thầy đồ vẫn nằm trên giường tờ thơ đặt ngay ngắn trên ngực.

Lí trưởng làng Chè đầu óc như hũ sành đút nút hay bị người làng trêu tức. Ở thôn bên có một tay thợ cày lực lưỡng mỗi lần đánh trâu đi qua cổng nhà ông Lí lại hát câu vè như sau: Hoa lài cắm bãi cứt trâu/ Tiếc cho thân gái canh thâu vầy vò... Mỗi lần nghe gã thợ cày hát thế Lí trưởng làng Chè lại lôi cô Lụa ra đánh. Vừa đánh Lí trưởng làng Chè vừa chửi: Ai bảo mày đẹp cho chúng nó mơ mòng. Bị đánh đòn oan lại không biết ngỏ cùng ai cô Lụa quyết trầm mình tự vẫn.

Buổi sáng hôm ấy lừa đợi cho Lí trưởng làng Chè lên nhà Chánh tổng Lộ cô Lụa lén đi ra bờ sông rồi gieo mình xuống vực. Cô Lụa tưởng rằng việc làm của cô không ai nhìn thấy nhưng có một người vẫn để mắt tới cô. Người ấy là thầy đồ xứ Trong. Thầy đã phong thanh biết chuyện vợ chồng cô biết cô bị đánh đòn ghen vì thế khi thấy cô len lén ra phía bờ sông thì nghi ngờ nên bí mật bám theo. Lúc cô gieo mình xuống vực thì thầy thực sự hoảng hốt vội vừa chạy vừa kêu to có người tự vẫn có người tự vẫn. Rồi không chờ dân làng thầy cởi phăng chiếc áo dài nhẩy xuống theo.

Nghe tiếng kêu mấy người già cùng hô nhau chạy ra bờ sông kêu to cứu người cứu người. Lúc mọi người chạy đến nơi cũng là lúc thầy đồ vớt được cô Lụa bơi đưa vào bờ. Sau vụ ấy người làng Chè kháo nhau rằng thầy đồ và vợ Lí trưởng phải lòng nhau. Chuyện râm ran suốt ngõ trong lối ngoài nhưng ông Lí không biết. Một hôm hình như vào Tết Rằm tháng Giêng cô Lụa gặp thầy đồ nói rằng cuộc sống của cô bây giờ chẳng khác gì địa ngục chẳng có ai cứu được cô ngoài thầy. Thầy đồ nói thầy để ý đến cô ngay từ lần đầu gặp mặt đêm nào thầy cũng nằm mơ thấy cô nhưng ngặt vì cô đã có chồng.

II-

Một thời gian sau nghe nói thầy đồ người miền Trong phải về gấp trong quê để tang cha. Lớp học chữ Nho tạm nghỉ. Sau khi thầy đồ ra đi ít bữa thì ở làng Chè xẩy ra một chuyện tầy đình. Cô Lụa vợ Lí trưởng làng Chè mất tích. Cụ Chánh Lộ phái người đi tìm và dò la khắp nơi nhưng không thu thập được tin tức gì. Có người bảo cô Lụa không chịu được sự hành hạ của chồng đã bỏ đi vào tận Nam Bộ làm thợ cạo mủ cao su. Có người bảo cô Lụa đã nhẩy sông tự vẫn xác trôi dạt đến tận Trung Hà dân miền ấy vớt lên rồi chôn như một cái xác vô thừa nhận. Đồn thì đồn thế nhưng nào ai biết đích xác cô Lụa còn sống hay chết. Năm sau Lí trưởng làng Chè lấy vợ mới câu chuyện rồi cũng chìm vào lãng quên.

III-

Khoảng đầu những năm một ngàn tám trăm của thế kỉ mười chín ở đoạn sông quãng làng Hạ Đan có một cặp vợ chồng từ xa đến xin với chính quyền sở tại mở một bến đò ngang. Hai người chăm chỉ làm ăn được dân cả hai ven bờ sông quí mến. Một lần có vị quan đầu tỉnh vi hành qua đò ngang của cặp vợ chồng này mới nhận ra ông lái đò là bạn học của mình xưa. Vị quan lớn hỏi:

"Ông lái có phải họ Phạm chăng? Ông có nhớ mấy câu thơ này không? Thuyền trôi bầu rượu ngầu sương/ Sông dài chén nhỏ mùi hương nhạt nhoà/ Trên bờ trẻ đói u oa/ Người đời quên mất quê nhà nơi đâu?

Ông lái đò nghe khách đọc mấy câu thơ thì vội dừng tay chèo nhìn kĩ vị khách qua sông thốt lên kinh ngạc:

"Ông họ Mạc phải không? Tôi nghe nói ông được bổ làm đốc học xứ Đoài cơ mà?"

Vị khách không cười trầm giọng nói:

"Phạm huynh ơi thơ huynh ngày xưa đệ đây thuộc lòng. Ngày xưa sư phụ của chúng ta luôn khen thơ văn của huynh luôn bắt bọn đệ phải học theo huynh. Người tài hoa thế sao lại đến nông nỗi này? Huynh bỏ bút từ bao giờ vậy?"

Ông lái đò nghe khách xướng đúng tên mình thì cười:

"Cây bút với tôi như mái chèo này. Mái chèo đẩy và lái con thuyền đi. Cây bút cũng đẩy và lái đời tôi đi."

Ông khách:

"Đệ có nghe mấy bài đồng dao trẻ con hát có những chữ dùng chỉ Phạm huynh mới có đoán là Phạm huynh đang ẩn dật ở vùng này hoá ra không sai."

Ông lái đò:

"Tôi do hoàn cảnh éo le cũng do bản tính của mình nên phải lên nương náu vùng này. Cũng tính ít năm sẽ hồi quê nhưng đất Hạ Đan là đất linh dân Hạ Đan là dân giầu nghĩa tình nên quyết định cắm rễ ở đây. Tôi sẽ tích cóp tiền sẽ xin mở trường sẽ đem cái chữ mở sáng con mắt của đám trẻ dân đen."

Ông khách:

"Thế thì hay quá vùng đất này dân trí còn tối tăm đời sống lam lũ bùn đất bọn lí dịch muốn nhào nặn họ ra sao thì ra. Tôi chúc Phạm huynh thành công."

Vị khách trả tiền đò rồi đi. Ông lái cũng không hỏi thêm gì về thân phận thực của vị khách này.

Ít năm sau nhờ có chút vốn liếng tích cóp được lại nhờ mấy cụ bô lão làng Hạ Đan nhiệt tình vận động ngôi trường đầu tiên của làng được mở. Người lái đò trở thành thày giáo gõ đầu trẻ.

Người thày ấy chính là cụ cố ngoại tôi.

Chuyện như sau. Thầy đồ Phạm mê cô Lụa cô cũng cảm yêu thầy nhưng ngặt vì đã có chồng nên không thể gặp nhau. Mà cái thói yêu nhau không gặp được nhau thì lúc nào cũng tưởng nhớ thành ra ốm tương tư. Thầy đồ Phạm theo Nho học nhưng là một thứ nho học theo cách quan niệm của thầy không chịu khuôn mình vào những ràng buộc của các bậc Thánh Nho. Thầy nghĩ cô Lụa lấy Lí Mua là do ép buộc không có hạnh phúc nhưng ở cái xứ Chè ấy cô Liễu không bao giờ có thể bỏ được chồng. Thầy đồ Phạm không cam tâm để mất tình yêu bèn bàn với cô Lụa trốn đi một nơi xa. Thầy nghĩ ra cái mẹo ve sầu thoát xác đưa cô Lụa lên miền ngược đến vùng Hạ Đan ngày nay.

Ngày ấy vùng Hạ Đan thưa người và hoang vắng dân bản địa rất mong có người đến khai phá nên dù không ai biết rõ lai lịch cặp vợ chồng tuy tuổi đã khơ khớ nhưng vẫn còn son rỗi lại lịch thiệp chăm chỉ nên vẫn hoan nghênh. Đôi vợ chồng ngụ cư có vốn mua một chiếc thuyền nan xin mở bến chèo đón khách qua lại. Người chồng có giọng nói nặng nặng nhưng vui tính hay đặt vè và kể tiếu lâm nên khách qua sông ai cũng yêu mến. Ông có chữ giầu lòng thương người thường giúp dân làng soạn những đơn từ thỉnh cầu và dạy trẻ con học chữ học hát. Người vợ xinh đẹp tảo tần mắn đẻ cứ ba năm đôi chẳng mấy chốc mà con đàn.

Từ ngày xin mở được trường dân làng bèn gọi người chồng bằng thầy gọi người vợ bằng cô người đánh được con cá sông hay săn được con nai con hươu đều xẻ chia cho thầy cô tình cảm thật thắm thiết. Lâu dần không còn ai coi vợ chồng thầy đồ Phạm là dân ngụ cư nữa.

(Còn tiếp)

HPP

Tôi nhớ chú lắm

Mỗi lần tôi đi qua đồng cát lại nhớ đến chú nhớ đến những phim tài liệu chú làm. Tôi nhớ vì tính cách chú mạnh mẽ kiên trì. Chúc năm mới vạn sự như ý

Nguyễn Quang Vinh

Em chúc Bác năm mới mần thêm nhiều truyện hayn nữa nhé.
Trong nhà văn mình chỉ có bác viết ra được những trang văn về lịch sử hoặc giả sử.
Chúc bác sức khỏe và hạnh phúc cùng gia đình. Kính bác một lạy