NGHIÊN ĐAN (tiếp theo)

 

IV-

Thầy đồ Phạm sống với cô Lụa rất hoà thuận lại biết cách làm ăn cũng căn cơ nên mỗi ngày một khá lên. Giành dụm được ít nhiều thầy mua một miếng đất làm nhà rồi tậu ruộng. Lúc đầu neo người hoặc khi cô Lụa sinh nở dân làng cảm ơn thầy đã giúp họ mở mày mở mặt dạy dỗ con cái họ có được cái chữ nên ai cũng sẵn lòng đều bỏ ra người một hai công người dăm ba buổi làm giúp. Cô Lụa là người vợ hiền thục sinh cho thầy giáo Phạm chín người con ba trai sáu gái.

Xã hội phát triển người đến Hạ Đan khai phá đông thêm chính quyền phái về một giáo viên dạy chữ Tây nhưng chỉ có con cái nhà khá giả đi học. Thầy Phạm cho con trai đến trường học chữ Tây tối về kèm cặp thêm chữ Nho bắt học Đường thi bắt học thư pháp. Ông ngoại tôi kể rằng cụ cố- tức thầy Phạm- rất nghiêm khắc. Cụ hay bắt ông ngoại tôi đứng khoanh tay để đọc thơ để nghe giảng về một câu thơ Đường hay về "văn phòng tứ bảo".

 

Cụ nói thư pháp là nghệ thuật viết chữ cũng là nghệ thuật hội hoạ thể hiện cái tâm cái ý cái khí của mình. Muốn trở thành tao nhân mặc khách không thể không biết về "văn phòng tứ bảo". Cụ hỏi ông ngoại "văn phòng tứ bảo" là gì con có biết không? Ông ngoại tôi đã nghe cụ nói đến thứ đó mấy lần rồi bèn đáp:

"Thưa cha đó là giấy bút mực và nghiên."

Nói giấy bút mực và nghiên là chỉ nói vậy vì khi rời bỏ nhà Chánh tổng Lộ cụ cố tôi đã phải buộc để lại tất cả những thứ đó. Để dạy con cụ cố quyết tự mình chế ra một thứ mà cụ cho là quan trọng nhất trong "tứ bảo". Đó là nghiên mực. Để chế nghiên mực thì việc tìm đá để làm là khó nhất. Cụ nói người ta có thể làm nghiên mực bằng ngói bằng gạch. Nhà giầu thì có thể làm nghiên mực bằng ngọc. Nhưng nghiên đá mới là nghiên mực tốt. Thế nào là nghiên mực tốt ấy là đá phải có thớ mảnh dễ phát mực và không có cặn. Cụ bảo rộng lớn như nước Trung Quốc mà đá làm nghiên mực chỉ có ở Quảng Đông và An Huy.

Cụ ngoại tôi đi khắp vùng Hạ Đan tìm đá để làm nghiên mực nhưng không tìm đâu ra. Một hôm có ông thầy địa lí đi qua ghé vào nhà cụ ngoại uống rượu nhân nói đến chuyện tìm đá bèn chỉ ra vườn và nói:

"Đá dùng để làm nghiên mực chớ gì? Tìm ở đâu xa ngay vườn nhà mình chứ đâu."

Vậy là cụ ngoại tôi quyết tìm đá ở vườn nhà mình. Tại khu đất thầy địa lí chỉ cụ ngoại tôi khoét sâu thành một cái hầm sâu hoắm từ trên nhìn xuống chỉ thấy tối om vẫn chẳng thấy đá đâu. Cụ bà Lụa chẳng một lời ca thán hàng ngày cơm nước để cụ ông đào. Dân làng một số người thấy cụ cố tôi làm vậy thì không ngớt bàn ra tán vào. Người thì bảo cụ đào vàng người thì bảo cụ tìm của người Tầu giấu lại. Một hôm vào khoảng nửa mùa chiếc hầm cụ tôi đang đào bất ngờ bị sập. Ông ngoại tôi ngày đó còn ít tuổi kêu lên mẹ ơi sập hầm của cha rồi. Cụ bà chạy ra thấy toàn bộ căn hầm bị đất sập bịt kín. Cụ bà gào to ông ơi ông ơi! Vừa gào vừa bới đất nhưng càng bới thì đất càng sập xuống nhiều hơn. Dân làng kéo đến rất đông nhưng khu đất cụ tôi đào lại hẹp nên chỉ có mấy người có thể đào bới giúp. Đào bới quá trưa sang chiều đất từ đâu vẫn cứ ùn lên.

Có người kéo cụ bà ra ngoài nói:

"Thầy bị vùi dưới đất cả ngày rồi chắc khó mà sống được. Đời sống chết có số..."

Cụ bà nghe không nói gì. Một người khác bàn:

"Có lẽ là mệnh trời nên càng đào đất càng đùn lên. Cô ơi hay để cho thầy yên nghỉ..."

Cụ bà nghe thế thì hiểu rằng mọi người khuyên cứ thế chôn ông. Cụ phẫn uất nói:

"Tôi cảm ơn mọi người. Ông nhà tôi không chết được."

Đêm ấy cụ bà thắp đuốc cùng các con dùng tay không bới đất bới suốt đêm. Lạ thay không thấy đất đùn lên nữa. Sáng hôm sau bất ngờ tay cụ bà chạm vào một tảng đá lớn. Cụ bà cuống quýt gọi các con ơi các con ơi lại đây. Các con và mấy người hàng xóm chạy lại xắn tay cùng bới tảng đá lớn hiện ra phía dưới có tiếng nước chẩy. Mọi người tìm thấy cụ cố tôi nằm nghiêng dưới phiến đá lớn vẫn còn thở. Thì ra dưới phiến đá lớn có một dòng nước ngầm khi đất sập cụ ngoại tôi đã được phiến đá che đỡ.

Cụ cố tôi cắt lấy một mảnh của phiến đá ấy đục rũa làm thành một chiếc nghiên mực lớn đồng thời xây một chiếc giếng ngay bên cạnh. Chiếc nghiên mực ấy là một chiếc nghiên mực đặc biệt không biết bao nhiêu áng văn thơ đã được cụ tôi nhúng mực từ chiếc nghiên ấy mà viết nên.

Khi cụ cố tôi mất đi chiếc nghiên mực ấy được giao lại cho ông ngoại tôi.


            V-

Khi tôi lớn lên bắt đầu cắp sách đến trường thì cụ cố ngoại tôi đã mất từ lâu. Ông ngoại tôi ngày đó đã ngoài bẩy mươi. Vào ngày giỗ cụ mẹ tôi đưa tôi vào chào ông. Lúc ấy ông tôi đang ở thư phòng chờ mài mực để viết chữ.

Ông ngoại mặc một tấm áo lụa sồi rộng mầu ngà ngồi ung dung trên chiếc tràng kỉ trên bàn trải một tờ giấy điệp rộng nguyên vẹn chưa viết chữ nào. Ở góc phòng là một thư sinh đang chăm chú cầm một thỏi mực tầu mài trong chiếc nghiên của cụ ngoại để lại mọi người đều gọi là NGHIÊN ĐAN ý nói chiếc nghiên mực được làm từ đá của đất làng Hạ Đan. Hồi đó vào giữa những năm năm mươi thế kỉ hai mươi cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vừa mới thắng lợi nửa nước được độc lập tự do. Trường tôi vừa chuyển từ trong rừng ra ngoài đồng soi không khí thật hào hứng phấn khởi. Ông ngoại hỏi tôi học hành ra sao? Có muốn học chữ Nho không? Tôi biết từ khi Cách mạng thành công người ta học chữ quốc ngữ. Thời nhỏ bố tôi có học chữ Nho rồi sau học chữ Pháp rồi sau nữa chỉ học chữ quốc ngữ. Học chữ quốc ngữ mới là yêu nước.

Tôi đáp:

"Thưa ông bây giờ người ta bỏ chữ Nho rồi người ta chỉ học chữ quốc ngữ thôi."

Ông ngoại cười bảo tôi còn bé không biết gì. Ông bảo cháu phải học chữ Nho. Chữ ấy ngày xửa ngày xưa các cụ nhà ta đã học thơ Đường các cụ ngày xưa đã ngâm thư pháp các cụ ngày xưa đã luyện. Tôi nói người ta bảo đó là chữ của người Tầu lai căng. Ông ngoại tôi lại cười cháu ơi cái chữ ấy đâu phải là của riêng người Tầu. Nó vào nước ta nó đã thấm tâm hồn ý chí người dân nước ta nó cũng là của chúng ta cháu ạ.

Ông bảo tôi khoanh tay đứng nghiêm nhìn ông viết chữ.
           
Người thanh niên ở góc phòng mài xong mực đưa lại cho ông. Ông chọn một cây bút lông cắm trong ống đưa lên ngắm nghía rồi nhúng vào mực và bắt đầu viết.

Tôi thấy đôi mắt ông sáng lên nghiêm trang thành kính tựa như chuẩn bị làm một nghi lễ cúng tế gì đó. Lúc ông viết hình như tinh lực dồn hết lên đầu ngọn bút tờ giấy điệp dưới ngọn bút khẽ run lên như bị nhập đồng như mặt hồ trong thoáng gợn sóng như mặt biển rộng cuộn lên trước bão táp như hơi thở nhẹ lại như người kéo xe lên dốc. Khi ông ngoại viết xong tôi nhìn thấy trán ông rịn mồ hôi. Trên mặt giấy lần lượt hiện lên từng chữ một mỗi chữ như một bức tranh họp lại như một bức hoạ đồ trùng trùng điệp điệp như đoàn quân thanh thoát như vũ nữ.

Tôi khẽ kêu lên:

"Tranh của ông đẹp quá!"

Ông bảo đúng thư pháp gọi là tranh cũng được thực sự đây là bức tranh chữ. Lối viết chữ thế này gọi là thư pháp. Chữ Nho là chữ tượng hình qua hình mà lập ý cháu có thể hình dung nó qua trí tưởng tượng của cháu. Tôi xem ông viết chữ vừa sợ sệt vừa kính phục. Ông nói thư pháp là sản phẩm của nền văn hoá Ngưỡng Thiệu cách chúng ta đến năm sáu ngàn năm. Còn nghiên mực chỉ mới có từ thời Hạ Thương.

Từ đó cứ những ngày nghỉ học tôi lại đến ông ngoại học mài mực và cầm bút tập viết.


            VI-

Nhưng chỉ mấy năm sau thì nổ ra cuộc cách mạng ruộng đất.

Năm đó tôi mới học lớp ba. Ông ngoại tôi bị qui là địa chủ.

Một đêm mưa gió bà ngoại tôi người ướt như chuột lột xô cửa vào nhà đánh thức tôi dậy dúi vào tay tôi một bọc vải nhỏ nhưng nặng. Bà bảo con phải đem giấu cái này ở chỗ nào chỉ con biết. Ông ngoại dặn nếu ông có mất không thấy mặt con thì cái này là của gia bảo ông truyền lại.

Tôi hỏi bên trong gói cái gì thì bà bảo bà không nói. Tôi cầm cái gói trong tay lần xem hình thù của nó thì có thể đoán ra đó là cái nghiên mực. Những ngày tôi đến mài mực cho ông ông bảo đó là bảo bối của cụ cố truyền lại phải trân trọng giữ gìn. Bảo bối này cụ cố suýt phải đổi cả cuộc đời mới có.

Chỉ sau đó ít ngày thì những cuộc đấu tố tra khảo địa chủ diễn ra. Không biết từ đâu người ta nói ông ngoại tôi có nhiều vàng lắm. Có người còn khăng khăng đã tận mắt thấy ông ngoại tôi có đôi trâu vàng có trái cau và lá trầu vàng. Họ tuyên bố tất cả những thứ đó là tài sản của nông dân. Nông dân kiên quyết thu về. Nhưng ông tôi một mực nói không có. Một buổi chiều mẹ tôi bảo con thử lén tới trụ sở đội cải cách xem người ta giam ông ngoại ở đâu? Tôi luồn lên đỉnh gò nép sau những bụi dứa rồi bám cột leo lên sà nhà căn phòng họ giam ông tôi bên ngoài có hai dân quân ôm súng và cầm kiếm canh gác.

Tôi lọt vào nằm trên sà nhà không ai biết. Vừa định liều tụt xuống gặp ông thì có nhiều tiếng ồn ào sau đó cửa mở toang và một đám người bước vào đem theo một lò than lớn các loại kìm sắt và mâm thau.

Tôi sợ quá nằm như gián đến thở cũng không dám thở. Một người mặc quần áo bộ đội bốn túi ngồi xuống ghế bắt đầu hỏi:

"Địa chủ Phạm mày giấu trâu vàng cau vàng trầu vàng ở đâu?"

Ông ngoại tôi bị trói giật cánh khỉ yếu đuối đứng không nổi ngã ngồi bệt xuống đất đáp:

"Thưa ông đội tôi làm gì có các thứ đó."

Ông đội là người nắm quyền sinh quyền sát tên là Câu tôi vẫn nghe người lớn nói nhưng hôm nay mới nhìn thấy mặt. Ông đội chạc ngoài bốn mươi nước da trắng khuôn mặt lưỡi cày nom không có vẻ gì ác. Một tay trước vẫn đi xới cỏ dứa thuê vung nắm đấm nện vào mặt ông tôi nói:

"Đả đảo địa chủ Phạm ngoan cố."

Đội trưởng Câu lặp lại câu hỏi cũ:

"Địa chủ Phạm mày giấu trâu vàng cau vàng trầu vàng ở đâu?"

Ông tôi lại lặp lại câu trả lời lúc trước. Và tay xới cỏ thuê lại dùng nắm đấm nện vào mặt ông tôi. Rồi một người dùng kìm sắt cặp chiếc mâm thau nung đỏ đem đến trước mặt ông tôi nói nếu không khai sẽ bị ép mâm vào ngực. Dường như ông tôi bị câm không thốt một lời. Tôi nằm trên sà nhà sợ muốn chết sau đó thì mót đái kinh khủng chỉ chậm một chút thì tè ra quần.

Đúng lúc ấy đội trưởng Câu nói:

"Dẫn tên địa chủ ngoan cố này ra vườn."

Cả bọn ồn ào đi ra tay xới cỏ thuê lôi ông tôi xềnh xệch trên đất theo sau. Tôi trốn khỏi căn phòng bây giờ giống như địa ngục nấp ở xa nhìn xem bọn người này làm gì tiếp. Thoạt đầu tôi thấy bọn họ đào một cái hố. Họ nghĩ nơi ấy ông tôi chôn vàng? Thế nhưng họ không đào sâu. Tôi nghe tay xới cỏ hỏi đào thế này được chưa đội trưởng? Tay đội trưởng gật đầu bảo được rồi đoạn tận tay đẩy ông ngoại tôi xuống hố. Ông ngoại không hề kêu một tiếng cố đứng lên. Chiếc hố sâu ngang ngực. Tay đội trưởng giọng rất nhẹ nhàng như đùa:

"Này địa chủ Phạm tao biết con trai mày cũng đi bộ đội có thể cùng một sư đoàn với tao nhưng mày là địa chủ mày là kẻ thù của nông dân mày phải bị tiêu diệt. Tao hỏi lại mày lần nữa mày giấu trâu cau trầu vàng ở đâu? Nói thì có thể được chết bằng một viên đạn không nói thì sẽ bị chôn sống?"

Ông ngoại tôi đứng im không nói. Tay đội trưởng thét:

"Lấp đất!"

Mấy người thi nhau dùng xẻng hất đất xuống hố hất cả đất lên đầu ông ngoại tôi. Ông tôi khẽ lảo đảo nhưng vẫn đứng vững không thốt lên một lời. Tôi khóc nhưng không dám khóc thành tiếng. Tôi tự hỏi không biết bố của tay đội trưởng kia ở nhà có bị đấu giống như ông ngoại tôi không? Và cái người chỉ huy tra tấn biết đâu lại chính là cậu tôi? (còn tiếp)

HPP

Đang ở thì tương lai

Cái chuyện như thế có lẽ phải với giọng như thế mới hợp chăng. Với mỗi chuyện cứ phải trăn trở tìm mãi mới được một giọng cho hợp nghề viết mà...
Ra Rằm tháng Giêng bọn tôi sẽ đi. Hẹn găp ông ở Sài Gòn.

Hoàng Đình Quang

Đọc truyện bác rợn quá nhât là lại viết với giọng "Tàu - Minh - Thanh" như thế.
Kế hoạch vô Nam phá sản rồi à?