TRẮC.TIỂU THUYẾT

 

LIÊN LÂU VI

VII-

Cách thời gian câu chuyện này xẩy ra khoảng 10 năm vào triều Hán Nguyên Đế Mã Viện khi ấy đang là Đốc bưu Long Tây được sai áp giải một trọng tù họ Hàn đi Tư Mệnh. Nghe nói Hàn là một danh sĩ vì có những ngôn luận phạm thượng nên bị khép tội chết sau được giảm án buộc phải lưu đầy sang biên cương tây vực. Hàn có dáng vẻ thư sinh coi cái khổ như cơm ăn coi cái chết nhẹ tựa lông chim hồng.

 

Cha mất sớm lúc Viện mới mười hai tuổi phải ở với anh cả là Huống lúc đó đang làm quan ở Hàm Dương bổng lộc hưởng 2000 thạch. Ông  anh Viện thuộc hạng người khai phóng cởi mở thay cha nuôi em ăn học. Viện cắp sách đến trường nhưng ít khi vào lớp tập hợp một đám bạn bè luyện đánh võ cưỡi ngựa hoặc đi ra vùng thôn quê xem dân chúng trồng kê mạch chăn dê cừu. Một hôm nhân Huống gọi vào hỏi han việc học Viện bèn thưa:

"Đệ được huynh trưởng rộng lòng cho ăn học nhưng đệ tự xét đầu óc mình lúc nào cũng ngổn ngang trận mạc hoặc vườn tược nơi thôn dã hoặc dê cừu nơi thảo nguyên không hợp với Tề thi. Huynh trưởng là người khai phóng vậy đệ cúi xin huynh trưởng rộng lòng ban cho đệ ân huệ được đi biên cương trồng kê mạch nuôi dê cừu. Đệ tin nnhư thế là đã trả được ân nghĩa sinh thành của cha mẹ."

Huống nghe Viện nói phải gật đầu đồng ý. Huống nói:

"Ngày cha chúng ta còn sống có nói đệ là người có chí. Theo quan sát của huynh thì đệ có tướng võ công việc trồng kê mạch nuôi dê cừu không phải là công việc chung thân của đệ. Đệ là người kì tài nhưng thành công muộn. Ta để cho đệ đi tây vực nhưng đệ phải giành một năm tập luyện uống sữa ngựa ăn cháo kê ngủ lều vải chịu đựng giá lạnh cho quen."

Viện vâng lời Huống ra sức tập luyện nhưng chưa được nửa năm thì  Huống chết. Viện phải gác lại chuyện đi tây vực ở nhà để tang anh. Viện là người chí hiếu thủ tang một năm không rời mộ Huống. Đối với chị dâu quả phụ Viện một mực kính trọng quần áo xộc xệch không bén mảng đến cửa nhà. Anh trai lớn mất Viện không thực hiện được ước mơ của mình nhưng nhờ hai người anh trai thứ là Dư và Viên đang giữ các chức huyện lệnh Viện được bổ làm Đốc bưu.

Ra làm quan hưởng lộc Triều đình nhưng Viện vẫn cảm thấy tâm trí mình xáo động không yên. Dấn thân vào chốn quan trường Viện mới cảm nhận được sự mục ruỗng của một đế chế. Viện nhớ lại cuộc rượu với viên Thái Thương Lệnh ở Trường An mới biết triều đình Bình Đế chính sự mục nát gian thần chuyên quyền đến nhường nào. Viện thấy nản chí nghi ngờ con đường công danh mà mình đã chọn. Cái ước vọng trồng kê mạch chăn dê cừu ngày nào lại sống dậy. Viện nằm xuống là mơ thấy thảo nguyên nhìn thấy con chim ưng tự do tung hoành trên bầu trời.

Con đường từ Long Tây đi Tư Mệnh xa cả ngàn dặm phải vượt qua thảo nguyên giá lạnh với những trận gió cát bất ngờ. Để giết thời gian Viện tìm cách gợi chuyện Hàn cứ thế hai người trở nên thân nhau. Một hôm Hàn hỏi:

"Này quan Đốc bưu ngài có để ý thấy trị sở của quan Thái thú nhỏ hơn tư dinh của quan Thái thú không?"

Viện đáp:

"Có thấy như thế."

Hàn hỏi tiếp:

"Vậy thì đấy là điềm gì?"

Viện chưa kịp trả lời thì Hàn đã nói:

"Đấy là điềm nước sắp mất."

"?"

"Bởi vì bây giờ bầy tôi không lo việc nước chỉ lo vơ vét cho mình. Ở kinh đô cũng vậy. Bây giờ thừa tướng lấn át vua quyền thế bầy tôi lớn hơn quyền thế nhà vua... Như thế nước không mất mới lạ."

Viện nghe xong cho là Hàn có lí. Lúc ngồi nghỉ Viện tháo xiềng cho Hàn rồi hỏi:

"Ở kinh đô nhà ngươi làm nghề gì?"

Hàn đáp:

"Làm biện sĩ dạy vua cách điều hành bá quan và cai trị trăm họ."

Viện hỏi:

"Nhà ngươi dạy thế nào?"

Hàn trả lời:

"Chẳng hạn ta kể cho vua nghe một câu chuyện từ chuyện đó dạy vua rút ra các cách trị nước điều khiển quần thần."

Hàn kể một chuyện Cung Vương nước Sở đánh nhau với Lệ Công nước Tấn ở Yến Lăng. Quân đội nước Sở thua Cung Vương bị thương. Trong khi đánh nhau quan Tư mã là Tử Phản khát nước gọi tên hầu là Cốc Dương đem nước lại uống. Cốc Dương biết quan thầy thích rượu bèn dâng một bát rượu. Tử Phản bảo đấy là rượu không phải là nước. Nhưng Cốc Dương cứ bảo là nước. Tử Phản bèn cầm lấy uống thích quá uống cho bằng say mới thôi. Cung Vương triệu Tử Phản đến bàn việc phá Tấn nhưng Tử Phản say không đến được. Cung Vương giận lắm bèn bãi binh và chém Tử Phản. Kể xong Hàn hỏi Mã Viện:

"Quan Đốc bưu thấy câu chuyện thế nào?"

Viện hứng trí đáp:

"Cốc Dương là một tên hầu trung thành vì quá yêu chủ nên bất chấp phép tắc miễn là làm cho chủ hài lòng nhưng hậu quả lại dẫn chủ đến cái chết. Tử Phản là bề trên cũng vì cái ham muốn của riêng mình mà bất chấp phép tắc nên phải chết chém cũng là xứng đáng. Đấng quân vương phải biết quên mình phải loại bỏ kẻ dưới xu nịnh."

Nói chuyện Viện biết rằng sở dĩ Hàn bị khép tội nặng đầy biệt sứ chỉ là vì cố lấy cái tài biện luận của mình hòng thuyết phục vua loại bỏ bọn gian thần. Nhưng vua là bậc hôn quân chẳng khác gì Tử Phản còn đám cận thần thì dùng cái mẹo của Cốc Dương dẫn dụ vua đi dần vào con đường diệt vong. Thành thử tương lai của Hàn cũng mờ mịt như chính ông vua mà Hàn thờ phụng.

Mã Viện thương hại Hàn kẻ sĩ mà không có con mắt nhìn xa uốn ba tấc lưỡi làm sao thay đổi được thế cuộc bây giờ thân đầy viễn xứ cha già ở quê không ai phụng dưỡng. Viện mất cha từ tấm bé không được hưởng sự thương yêu của cha bây giờ trưởng thành muốn phụng dưỡng cha mà không được lòng thấy xót thương người cha của Hàn. Viện hỏi:

"Tiên sinh Hàn cha già tiên sinh năm nay bao tuổi?"

Hàn rơm rớm nước mắt đáp:

"Phụ thân kẻ tội trọng này năm nay ngoài bẩy mươi rồi héo rụng lúc nào không hay."

Viện cảm thán:

"Thương thay thương thay."

Tối hôm ấy Viện tháo xiềng cho Hàn bảo y tìm cách thay đổi họ tên trốn về quê quán mà phụng dưỡng cha già. Hàn vái lạy hỏi:

"Còn quan Đốc bưu thì sao?"

Viện móc trong áo ra mấy lạng bạc vụn đưa cho Hàn thủng thẳng:

"Ta sẽ lên sa mạc chăn dê cừu. Việc này ta trù liệu từ lâu ngay từ khi huynh trưởng ta còn sống."

Sáng hôm sau Viện cưỡi ngựa đi sang Tây vực sang đất của người Khương. Từ đấy ăn ngủ với nắng gió với sương giá và bão tuyết thảo nguyên.

            Năm ấy Viện mới hai mươi bốn tuổi chí khí sôi sục ngang tàng. Viện kết thân với các tù trưởng người Khương mở đất chăn dê cừu trồng kê mạch. Chỉ mấy năm Viện nhờ có trí nhớ tốt hiểu biết về cây có muông thú y như hiểu rõ đàn ngựa của mình lại biết cách làm ăn nên đàn gia súc của Viện lớn lên đông cả ngàn con mùa mùa du mục kéo đi suốt dải Long Hán (Cam Túc- Ninh Hạ- Thiểm Tây).

Ở thảo nguyên muốn tồn tại được thì phải có thế lực nếu không có thế lực thì phải dựa vào người có thế lực. Viện là người có đầu óc quân sự biết cách tổ chức nên thế lực ngày một lớn lên. Dân ngoại vực đem theo ngựa dê cừu nhiều hàng ngàn con đến nhờ Viện che chở ngày càng đông. Viện trở thành thủ lĩnh mặc áo lông cưỡi ngựa tốt ăn thịt cừu nướng cả đùi sống phóng khoáng như ngọn gió thảo nguyên.

Một năm vào mùa đông Viện đưa đàn dê cừu của mình đi tìm bãi chăn mới. Một chuyến đi như thế phải chuẩn bị hết sức công phu để chống chọi với giá rét với sói dữ. Buổi chiều sau khi tìm được bãi thả lớn chưa từng có từ trước đến nay Viện cho dựng lều. Đêm ấy ngồi uống rượu bên bếp lửa có kẻ tâm phúc tên Thiết theo Viện từ khi còn làm Đốc bưu ở Lũng Tây chuyên áp giải tù trong chuyến áp tù cuối cùng thả cho tù trốn bỏ phủ Tư Mệnh lên thảo nguyên. Thiết bỗng nhớ đến giòng sông quê đến rặng liễu thướt tha miền hạ lưu sông Hoàng bèn thăm dò hỏi:

            "Chẳng lẽ Đốc quân cam tâm sống nơi biên ải xa xăm đến mãn kiếp sao?"

            Viện cười đáp:

            "Tổ tiên ta là danh tướng nước Triệu lập công lớn với triều đình được Triệu Hệ Vương phong Mã Phục Quân. Tằng tổ ta là Mã Thông nhờ có công lớn được phong Trọng Hợp Hầu nhưng huynh trưởng của người là Mã Hà La mưu phản nên liên luỵ mà bị Hán Vũ Đế chém đầu. Do thế đến đời ông đời cha ta sự nghiệp và địa vị chẳng có gì. Ta nuôi chí lớn của thân phụ lúc nào cũng mưu việc lớn nhưng đại trượng phu lập trí cùng đương ích kiện lão đương ích tráng."

            Thiết nói với Viện giọng ảo não:

            "Kẻ hèn này theo hầu Đốc quân bấy nhiêu năm đêm nào nằm ngủ cũng mơ thấy giòng sông và rặng liễu quê hương sáng nào cũng tâm niệm một điều sẽ có ngày theo Đốc quân về lại Hoa Hạ."

            Viện an ủi Thiết nói:

            "Ta hiểu tấm lòng của ngươi rồi chúng ta sẽ về Hoa Hạ."

            Nói thế nhưng khi Vương Mãng giết Bình Đế tiếm ngôi nhà Hán lập nên nhà Tân hai người anh của Viện ngả theo được Mãng tin dùng phong cho chức quan to hưởng lộc 2000 thạch bắn tin cho Viện nhưng Viện từ chối không ra làm quan cam lòng ở đất Long Hán làm một đầu mục thảo nguyên.


            VIII-

Sau khi kiêm tính Văn Lang dựng nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa xây dựng Loa thành An Dương Vương vẫn để cho giòng dõi nhà Hùng giữ phần đất cũ.
          
Tần Thuỷ Hoàng tiêu diệt sáu nước thống nhất Trung Quốc vẫn ôm tham vọng mở rộng cương vực làm bá chủ thiên hạ bèn sai Đồ Thư đem quân đánh Bách Việt. Đại tướng của Đồ Thư là Nhâm Ngao cùng viên phó tướng Triệu Đà kéo quân vượt rặng Ngũ Lĩnh chiếm lấy Nam Hải thực hiện kế sách hoà tan dân bản địa. Nhâm Ngao được vua Tần ban cho chức Thái thú còn Triệu Đà không hiểu sao chỉ được ban một chức quan nhỏ chức huyện lệnh. Lĩnh Nam ở xa Trường An dân chúng không chịu qui thuận nổi lên chống phá khắp nơi. Để vỗ yên dân chúng Ngao và Đà thực hiện chính sách bình cũ rượu mới để cho các tù trưởng giữ nguyên chức vị được hưởng bổng lộc do dân thuộc ấp đóng góp từ đó tìm cách thay đổi dần dần.

Nhà Tần hùng mạnh thế lên như sóng trào nhưng thế ấy không giữ được lâu suy yếu nhãn tiền bọn Nhâm Ngao Triệu Đà nẩy lòng riêng muốn tự gây nghiệp lớn. Ngao chết sớm Đà lên thay bèn chiếm lấy quận Nam Hải đóng dinh ở Phiên Ngung. Để củng cố thế lực của mình Đà ra sức mở mang đất đai chiếm Lĩnh Nam dùng kế lấy Âu Lạc rồi tự xưng Nam Việt Vũ Vương lập ra nước Nam Việt.

Khi đó ở Trung Nguyên Lưu Bang diệt nhà Tần đánh bại Sở vương Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Hán Cao Tổ thấy Triệu Đà xưng vương không chịu thần phục bèn sai Lục Giả đi Lĩnh Nam thuyết khách Lục Giả xuống Lĩnh Nam xây dựng dinh cơ để ở chờ mấy tháng mới gặp được Triệu Đà uốn ba tấc lưỡi khiến Đà từ bỏ đế hiệu cống nạp nhà Hán. Khi nhà Hán củng cố được thế lực hùng mạnh lên Hán Vũ Đế Lưu Tú mới sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem quân diệt nhà Triệu đặt nước Nam Việt là Giao Chỉ bộ chia làm chín quận: Nam Hải Thương Ngô Uất Lâm Giao Chỉ Cửu Chân Nhật Nam châu Nhai và Đạm Nhĩ.

Kể từ thời Tiên Tần qua nhà Triệu đến thời Hán mặc dù chính sự khác nhau mặc cho vua chúa thay đổi nhưng dù là vua nào lên ngôi Thái thú nào cai trị thì giòng dõi nhà Hùng vẫn được để coi sóc đất cũ hưởng bổng lộc do thuộc dân đóng góp theo lối cha truyền con nối.

Lạc tướng Mê Linh tên Trưng giòng dõi nhà Hùng. Trưng bản tính thông minh là người có chí. Thuở nhỏ theo học mấy vị gia sư là bạn của cha tinh thông võ nghệ biết múa kiếm bắn cung. Bơi lội thì khỏi phải nói không khác gì con rái cá lặn cả giờ không cần ngoi lên. Khi cha mẹ khuất núi tiếp thu chức huyện lệnh huyện đông dân hàng đầu quận Giao Chỉ Trưng một lòng một dạ chăm lo đời sống nhân dân khôi phục và giữ lại những phong tục tập quán của người dân Âu Lạc. Hàng năm vào ngày mười tháng Ba Hùng Trưng đều đưa bầu đoàn thê tử ngược sông Cái lên Sơn Nghĩa Lĩnh làm lễ tế trời tưởng niệm các bậc tiên liệt.

Một lần sau lễ tế trời đất Hùng Trưng cho chặt cọ lợp lán trải cỏ nằm nghỉ. Nửa đêm khi đuốc nến đã tắt Trưng bước ra khỏi lán ngửa cổ nhìn lên bầu trời bỗng thấy từ trên đỉnh trời xuất hiện một quầng sáng chói thoạt đầu nhỏ như trái bưởi Đoan rồi lớn lên như mặt trống đồng sau cùng cả bầu trời Sơn Nghĩa Lĩnh sáng trắng như ban ngày. Hùng Trưng vội sụp lậy. Từ trên cao một giọng ấm áp vang động sông núi:

"Con ve sầu sinh mùa xuân chết vào mùa hè không biết một năm dài như thế nào. Con người hơn con vật biết được thời gian dài ngắn biết muốn đi trăm dặm thì phải chuẩn bị lương thực ăn hai ba ngày muốn đi ngàn dặm thì lương thực phải mang theo cho vài ba tháng. Con muốn khôi phục giang sơn nhà Hùng thì phải có chí của chim bằng vượt biển Đông có sức của hổ báo trấn áp muôn loài."

Khi vầng sáng bay đi Hùng Trưng mới dám ngẩng lên còn kịp thấy bóng Hùng Vương cưỡi hạc thăm thẳm về trời. Trưng quay vào lán mọi người vẫn đang ngủ say. Hoá ra đấy là một giấc mơ. Ngẫm nghĩ kĩ Trưng tin rằng đấy là hồn thiếng của các vua Hùng hiện về báo mộng nhắc nhở Trưng nghĩa vụ của mình. Sau đấy Trưng tìm được Trùm Lí tổ chức ra gánh hát rong cho đi khắp nơi lấy lời hát làm vũ khí để thức tỉnh lòng người.

Hôm nay nhân làm lễ ăn đầy tôi cho Trắc và Nhì Lạc tướng cũng có định kế gặp gỡ một số huyện lệnh huyện trưởng thân tín để bàn các công việc cho mưu tính khôi phục giang sơn nhà Hùng.

Sau khi sai gia nhân đưa đôi chim ưng của Trùm Lí tặng về phía sau nhà dặn dò mọi người công việc tiếp tân Hùng Trưng bước lên sảnh đón khách.

Người khách đầu tiên đến chúc mừng Lạc tướng Mê Linh là Lạc tướng Chu Diên tên là Thi. Vị đứng đầu huyện Chu Diên có tướng như một quan văn dáng cao dong dỏng bộ râu dài đen nhánh bước đi khoan thai. Hùng Trưng vội bước xuống sàn vái chào Thi từ xa. Thi vội đáp lễ nói:

"Chúc mừng nhị vị mị nương của Lạc tướng!"

Trưng hiểu Thi tôn trọng Trưng là giòng dõi đích của Hùng Vương những lời nói trên thốt ra từ lòng thành thực chứ không phải khách khí. Chào hỏi nhau xong hai người cùng sánh bước lên phòng khách. Thi nói:

"Tôi mới ở Liên Lâu về. Lòng dân còn phân tán. Tích Quang đã đứng vững chân ở Giao Chỉ mở trường dạy chữ Hán đem các dụng cụ làm ruộng bằng sắt cho nhà nông... Việc ấy khiến giới quí tộc và đám chức sắc ở chiềng chạ thích thú. Nhưng dân chúng không ưa những phong tục mới mẻ cưới xin cảm thấy gò bó. Họ vẫn luyến tiếc lối sống tự nhiên phóng túng."

Hùng Trưng khoe:

"Trùm Lí vừa biếu tôi một đôi chim ưng để săn mồi và đưa thư. Một đôi chim thần. Chúng ta muốn không bị biến thành cái bóng của người Hán thì cốt yếu là phải duy trì được thiên tính chỉ có chiềng chạ làng xóm mới duy trì được cái đó."

Thi gật gù:

"Lạc tướng nói chí phải. Dân Âu Lạc phần đông mù chữ chỉ có cách truyền khẩu hát nói hát đồng dao hát vè. Mưa dầm thấm lâu. Trùm Lí làm việc này rất giỏi. Xin hỏi việc liên lạc với Cửu Chân Nhật Nam đến đâu rồi? Ý tới của Lạc tướng?"

Hùng Trưng trầm giọng nhắc lại những lời ông được Hùng Vương truyền dạy:

"Đó là việc mà tôi luôn canh cánh bên lòng. Thưa huyện lệnh cổ nhân nói con ve sầu sinh mùa xuân chết vào mùa hè không biết một năm dài như thế nào. Con người may mắn hơn con ve sầu có thể sống trăm năm có được trí khôn biết muốn đi trăm dặm thì phải chuẩn bị lương thực ăn hai ba ngày muốn đi ngàn dặm thì lương thực phải mang theo cho vài ba tháng. Chúng ta muốn khôi phục giang sơn nhà Hùng thì phải có chí của chim bằng vượt biển Đông có sức của hổ báo trấn áp muôn loài. Cái chí ấy phải truyền từ đời này sang đời khác đời cha chưa làm được thì đời con đời con không được thì đời cháu!"

Huyện lệnh Chu Diên:

"Chí phải. Khách mời hôm nay có đông không thưa Lạc tướng?"

Hùng Trưng:

"Thưa chỉ mời những người thân thiết những bạn tâm giao."

Chưa dứt lời thì thấy Huyện trưởng các huyện An Biên và Khúc Dương kéo đến. Cả nhà tràn ngập tiếng cười vui.

Lễ cúng đầy tôi làm ở gian giữa nhà chính. Bà Thiện đặt lên bàn đĩa trầu têm mười hai miếng miệng nói lạy mười hai bà mụ nặn nên chúng con. Người nhà bầy cỗ đốt hương trầm. Những ông già bà cả trong các làng lân cận đưa lên người thì mười hai đôi hài nhỏ xíu người thì mười hai xâu cua nướng người thì mười hai bát ốc luộc bỏ lá chanh thơm phức. Khách mừng được Lạc tướng mời ngồi ngay gần bếp lửa vừa uống nước vối vừa trò chuyện. Phía dưới sân người nhà làm thịt mấy con bê đem quay trên lò than lớn đỏ rực.

Khi đồ cúng đã sắp xếp xong xuôi bà Thiện bảo Lạc tướng lên cúng. Lạc tướng để đầu trần vai khoác tấm vải tơ tằm giấn mầu nâu thắm đóng chiếc khố sồi mới chót khố buông dài đến gối. Ông khấn tạ trời đất mười hai bà mụ kính cáo với các vua Hùng xin các ngài phù hộ độ trì cho Trắc và Nhì ăn no chóng lớn không dính bệnh tật lớn lên thì giỏi giang kế tục nghiệp cha ông làm rạng rỡ nhà Hùng.

Gánh hát của Trùm Lí hát mừng:

Mừng ông Trưng bà Thiện

Hạ sinh hai mị nương

Hai bông hồng trân quí

Hai người con phi thường

Sẽ dựng nên nghiệp lớn

Làm rạng danh nhà Hùng...

            Mọi người cùng vỗ tay hát theo. Huyện lệnh Chu Diên chắp hai tay nói:

            "Nhớ lễ đầy tôi Sách Chu Diên cách đây năm năm Lạc tướng Trưng đến mừng chúng tôi có đem theo quyển sách và cây cung khi mở tiệc thí nhi Sách đã chọn quyển sách. Hôm nay làm lễ đầy tôi cho Trắc Nhì tôi có mang theo ấn triện cây cung bút mực cầy bừa. Vậy xin mở tiệc thí nhi."

            Lạc tướng Mê Linh hoan hỉ nói đội ơn Lạc tướng Chu Diên rồi cho bảo vú nuôi đưa Trắc và Nhì ra.

            Trắc và Nhì vừa tròn một tuổi bụ bẫm và khoẻ mạnh đã lẫm chẫm biết đi trằn khỏi tay vú nuôi lao về phía bà Thiện. Bà Thiện vòng tay ôm lấy hai đứa con cười rạng rỡ nựng:

            "Các con của bố Trưng mẹ Thiện ngoan ngoan nào."

            Lạc tướng Chu Diên lấy từ trong tay nải những thứ vừa nói bày ra sàn gỗ. Đó là những thứ đồ chơi được làm hết sức tinh xảo. Lạc tướng quay về phía ông Trưng:

            "Tiệc thí nhi là lối người Trung Nguyên làm mới nhập vào Giao Chỉ ta từ thời Tích Quang thấy hay hay nên ta bắt chước."

            Hùng Trưng bỗng thấy không vui gượng nói:

            "Thế thì thôi ta dùng những thứ này làm đồ chơi cho con trẻ không làm tiệc thí nhi nữa."

Bà Thiện hưởng ứng theo bảo thôi không làm tiệc thí nhi nữa. Hùng Trưng kêu người nhà dọn tiệc. 
                                                                                          
(Còn tiếp)