TRẮC.LIÊN LÂU VIII

 

XI-

Cái hôm Tích Quang và Lục An từ Mê Linh về đến Liên Lâu thì gánh hát của Trùm Lí cũng đang ở Liên Lâu. Đêm hôm ấy Trùm Lí cho nghỉ diễn. Môn rủ Nhài thuê một chiếc đò dọc chèo xuôi về phía hạ lưu. Lâu lắm hai người mới được ở riêng với nhau. Nhài ngồi ở đầu thuyền nhẩm hát bài ca mà ông Trùm Lí mới truyền dạy cho.

 

Gióng hỏi tướng giặc Ân

Sao xâm phạm bờ cõi?

Đất ta đời tiếp nối

Sách Trời ghi rõ rành!

Chúng bay quân vô đạo

Sẽ bị đánh tan tành...

Môn vòng ra sau Nhài ôm lấy cô hát tiếp:

Chúng bay quân vô đạo

Sẽ bị đánh tan tành...

Nhài cảm thấy hơi thở nóng hổi của Môn phả vào gáy mình cô bèn quờ tay ra lưng bắt gặp cái cục thịt của Môn cứng lên nóng như cục sắt nung đỏ. Nhài thấy khắp người ngứa ngáy muốn được Môn cắn vào những chỗ ngứa ấy bèn nắm chặt lấy ghé miệng sát tai Môn:

"Em muốn ăn sống cái này."

Môn không chịu được đứng thẳng lên bế thốc Nhài bước vào khoang. Cô gái tự cởi bỏ yếm kéo ngược chiếc váy lên trên. Môn đưa hai tay vuốt nhẹ dọc theo đùi non Nhài rồi xoa lên háng khiến Nhàn rùng mình rên ư ử.

Môn cúi xuống uốn lưỡi đánh nhẹ vào giữa ngực nơi Nhài thấy ngứa ngáy. Nhài bảo Môn ơi làm thế thì Nhài chết mất. Môn bảo Môn có thuốc hồi sinh sẽ cứu Nhài sống lại. Nhài co chân dùng ngón cái kéo tụt chiếc khố của Môn rồi quặp lấy cổ Môn rên rẩm: Nhài muốn chết Nhài muốn chết...

Lúc ấy trăng non mới nhú.

Sở dĩ hôm ấy ông Trùm cho nghỉ diễn vì ông Trùm cũng có cuộc hẹn. Ông Trùm ra khỏi thành Luy Lâu leo lên gò Thuận Sơn. Con đường rợp bóng cây cổ thụ cỏ gai và dây leo quấn vào nhau thật khó đi. Ông Trùm đi quãng một trống canh thì đến đỉnh gò. Đỉnh gò là một bãi đất bằng phẳng ở giữa có một phiến đá vuông vức như chiếc bàn cờ cỡ lớn. Trên phiến đá có một đạo sĩ đang ngồi.

Trùm Lí cúi đầu chào:

"Lần gặp trước ở chợ bến đò Lãng Bạc đạo sĩ hẹn Trùm Lí này sau ba tuần trăng sẽ gặp. Thời gian vút cánh chim ưng. Hôm nay tròn ba tuần trăng Trùm Lí xin đến lĩnh giáo đạo sĩ."

Đạo sĩ bảo:

"Anh Trùm hãy ngồi xuống ta nói chuyện."

Trùm Lí ngồi xuống đối diện với đạo sĩ. Đạo sĩ hỏi:

"Làm sao Trùm Lí biết là đúng ba tháng?"

Trùm Lí nói con người sinh ra có con gà dùng tiếng gáy để đánh thức dậy đón mặt trời có mặt trời lặn xuống sau núi cho bóng tối phủ lên nhắc phải đi ngủ. Thức dậy đi làm để kiếm cái đút vào mồm ăn ấm bụng rồi phải đi ngủ để mai lại đi làm. Cuộc đời như một cái vòng quay khép kín ngắn thì là ngày đêm dài thì là tháng là mùa dài nữa thì là quí là năm. Con người sống được bao tháng bao ngày bao quí bao năm chúng ta chả ai biết được. Cuộc hẹn của đạo sĩ thật quá dài nếu mỗi ngày là một viên đá thì ba tuần trăng có bao nhiêu viên đá chất lên lưng ta nặng lắm làm sao đi nổi? May mà Trùm Lí biết cách cất đi gánh nặng sống một ngày coi một ngày là vui thế mới đo được một năm mới nhớ hẹn mà đến được gò Thuận Sơn.

Đạo sĩ bảo rằng anh Trùm nói đúng. Người ta muốn đo độ dài đường đi phải dùng cái thước muốn đo lường thóc nhiều hay ít phải dùng cái đấu. Anh Trùm biết lấy niềm vui để mà đo đấy là một cách tốt. Nhưng cái thước ấy phụ thuộc vào cái tâm của anh. Cái để mà đo ấy dù đêm tối hay ngày sáng dù trời nắng hay trời mưa nó vẫn là nó. Nó phải là cái thước hay cái đấu. Những cái đó cũng có cái hạn chế chỉ đo được cái tồn tại ngoài con người. Con người muốn biết mình sống vì cái gì sống để làm gì thì dùng cái gì mà lượng mà đo?

Anh Trùm gặp câu hỏi này thì thấy bí... Không phải vì cái lối nói rắc rối của vị đạo sĩ. Anh Trùm thấy bí không trả lời được là vì vị đạo sĩ này đi từ Trường An nhà Hán sang. Liệu Trùm Lí có thể nói với ông ta rằng con người như Lí và những người khác sống là để tìm cách khôi phục lại đất nước của nhà Hùng:

Đất ta đời tiếp nối

Sách Trời ghi rõ rành!

Đấy là câu hát mà Lạc tướng Mê Linh mới dạy cho Lí. Nhưng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hùng để làm gì? Để được sống như mình muốn mình thích để không bị những trói buộc? Nghĩ thế nhưng Trùm Lí lại đáp:

"Trùm Lí lập gánh hát rong là để kiếm miếng ăn. Mục đích sống của con người là ăn là mặc và cuối cùng cũng chính là sống."

Đạo sĩ gật gù anh Trùm nói cũng rất đúng nhưng mới đúng ở cái bề ngoài. Còn cái bên trong thì anh Trùm chưa nói đến nghĩa là có thể anh Trùm chưa biết. Dừng một lúc lâu chừng để cho Trùm Lí thấm thía đạo sĩ mới nói:

"Con người ta cái chưa biết thì nhiều nhiều lắm. Con trâu lúc đầu có biết đi cày đâu phải dạy mới biết. Con người mới đẻ ra đã biết nói biết đi đâu phải đợi lớn lên phải học mới biết. Con người muốn biết mình sống để làm gì thì phải có đạo. Muốn có đạo thì phải học. Phải học. Nhưng học lại không thể lấy nhanh mà thành cổ nhân đã nói dục tốc bất đạt. Đó anh Trùm."

Lúc này nghe đạo sĩ nói dù có quanh quéo thế nào Trùm Lí cũng có thể đoán ra ý của đạo sĩ muốn gì. Nhưng Trùm Lí cứ làm như không hiểu cứ làm vẻ ngô nghê nói:

"Đạo sĩ nói sau một năm gặp khắc biết. Gã Trùm gánh hát rong này gặp đạo sĩ rồi mà vẫn chưa biết gì?"

Đạo sĩ nghiêm sắc mặt:

"Đó đó anh Trùm đã biết rồi đấy cái không biết chính là cái biết. Anh Trùm họ Lí nên ta nói để anh biết điều này. Ông Lí Nhĩ là người huyện Khổ nước Sở có viết ra một cuốn sách gọi là Đạo Đức chân kinh ta có đem theo đây một bản sao muốn trao cho anh Trùm..."

Trùm Lí vội sụp xuống vái đạo sĩ một vái bởi vì từ lâu Trùm đã được nghe nói đến cuốn sách này. Người đời gọi là sách Thánh hiền sách ấy đâu có dễ dàng lọt vào tay một người tầm thường như Trùm. Có lẽ đây là cơ duyên có lẽ sau này Trùm Lí sẽ tu tiên. Còn bây giờ...


         XII-

Theo lệ hàng năm cứ vào tháng Chạp Tích Quang lại họp các huyện lệnh và huyện trưởng để thông báo việc cống nạp cho triều đình Trung Nguyên và việc đóng góp các loại sai dịch phục vụ quận phủ. Riêng năm nay Tích Quang để lui lại vào sau tiết xuân đúng vào dịp hội Rằm tháng giêng.

Mỗi lần về Liên Lâu Lạc tướng Mê Linh phải đi trước hẹn một ngày không đi thuyền mà đi ngựa. Trước khi đi bà Thiện sai người xem xét sổ sách kiểm lại hộ khẩu để biết số lượng cống nạp năm trước những sai dịch đã làm số đinh tăng hay giảm. Bà lại sai giám mã lựa chọn trong đàn ngựa nhà một con tốt nhất cho Lạc tướng và một con cho kị sĩ dắt theo để dự phòng. Đêm trước ngày lên đường hai người ôm ấp trò chuyện cho đến khuya cho đến khi trăng lệch về tây. Đến lúc ấy bà Thiện mới cầm tay chồng nói:

"Mỗi lần chàng đi Liên Lâu là một lần thiếp lo lắng không yên. Nơi ấy là tổ rắn hang hùm cạm bẫy khắp nơi. Lần này chàng đi thiếp càng thấy không yên lòng mong chàng lưu ý chớ làm điều gì sơ sảy."

Hùng Trưng ôm vợ trong tay nói cứng để vợ yên lòng:

"Liên Lâu là trị sở quận Giao Chỉ nhưng là đất của con cháu nhà Hùng. Nàng đừng có lo lắng quá. Cùng với ta còn bao nhiêu Lạc tướng khác."

Nghe Hùng Trưng nói bà Thiện thấy yên tâm phần nào cái cảm giác đàn bà nhỏ bé yếu đuối đẩy bà nép mình vào ngực Trưng. Nhưng khi ấy bà lại nhớ đến chuyện bức tranh lụa vẽ ba mươi sáu kiểu mà Trưng kể thì một nỗi lo lắng khác dâng lên bà bèn đưa tay vuốt ve chồng. Lúc ấy mắt Trưng đã díp lại buồn ngủ rồi nhưng vợ không chịu. Thiện nỉ non:

"Chàng đi xa nhiều ngày thiếp nhớ chàng. Chàng hãy chiều để thiếp đỡ nhớ chàng hãy làm cho thiếp sung sướng như lần chàng từ Cửu Chân ra đi."

Nhưng Trưng đã thở đều đều không nghe thấy Thiện nói gì nữa.

Sáng hôm sau Lạc tướng thức dậy sớm thúc giục bọn người dưới chuẩn bị để lên đường thì bà Thiện vẫn còn ngủ trên mắt đọng lại hai ngấn lệ chưa khô.

Tiếng huyên náo dưới sân khiến bà Thiện thức dậy. Lạc tướng Mê Linh đã vận võ phục đeo kiếm chuẩn bị lên ngựa cùng hai kị sĩ rời tư dinh đi Liên Lâu.

Bà Thiện trang điểm sơ sài bước xuống cầm tay chồng chúc lên đường may mắn.

Lạc tướng cùng hai kị sĩ giật cương lao ra khỏi cổng vút đi như gió lốc không một lần ngoái đầu trở lại. Họ đi dọc bờ sông qua một bến đò chen chúc người đi trẩy hội qua một đám đánh đu và chơi đánh phết. Lạc tướng bảo hai kị sĩ dừng cương coi trò đánh phết nghe nói do nàng Thiều Hoa ở vùng Tam Thuỷ mới nghĩ ra.

Mấy con ngựa đang phi nhanh bị ghìm lại hí lên lanh lảnh. Lạc tướng nhẩy xuống ngựa đi đến bên người trưởng trò. Lúc đó trên sân cỏ hai đám thanh niên một bên quấn khố nâu một bên quấn khố vàng mỗi chàng thanh niên lăm lăm cây gậy trong tay ra sức tranh nhau trái bóng gỗ nhằm đẩy nó rơi vào lỗ của đối phương.

Chơi trò này đám thanh niên phải có sức khoẻ húc thẳng vào nhau như trâu ngã lăn ra mà không thấy đau phải chạy nhanh để đối phương không đuổi kịp phải lanh mắt lanh tay để cướp lấy bóng trong cây gậy của bên kia. Lạc tướng hỏi người trưởng trò:

"Trò này gọi là trò gì nhỉ?"

Người trưởng trò đáp:

"Bẩm vẫn chưa kịp đặt tên. Mỗi lần bên nào đưa được trái bóng rơi vào lỗ của đối phương thì gọi là phết phết một phết hai phết ba... Bên nào phết được nhiều hơn thì thắng."

Lạc tướng bật cười người Việt mình chúa là hay lẫn lộn phít với phết hay tất cả đấy chỉ là một hình dung. Ông nói với người chủ trò:

"Trò này hay đấy cứ gọi là trò phết. Có thể tổ chức cho thanh niên cho bọn trẻ chơi để rèn sức khoẻ. Khoẻ sẽ tốt sẽ hữu dụng."

Lạc tướng dặn người chủ trò xong quay lại với đám kị sĩ rồi lên đường. Đám người đang chơi dừng cả lại vui vẻ vẫy chào Lạc tướng. Nom gương mặt Lạc tướng có thể biết rằng nếu không vì phải đi Liên Lâu chắc ông đã nhẩy ngay vào sân cầm cây gậy mà dẫn quả bóng vào trúng lỗ phết.

Con đường uốn lượn theo sườn đồi băng qua những cánh đồng hướng về phía Trị sở quận Giao Chỉ rung lên dưới vó ngựa của Lạc tướng. Sau tết xuân người dân còn mải mê hội hè vui chơi những người tình cũ không lấy được nhau còn mải gặp nhau không khí miền quê đầy vẻ thanh bình. Những làng chạ sơn trại mươn mướt xanh và âm ấm khói uốn lên. Lạc tướng thấy chưa lúc nào yêu mến mảnh đất của mình như khi mùa xuân sang. Hoa nở khắp trong vườn và ngoài đồng nội. Những cánh én chấp chới thả tiếng hót ríu ran với một sự hào phóng hiếm có. Mùa xuân đẹp thế làm sao mà kìm được sự hứng tình.

Tiếng là giòng dõi nhà Hùng hưởng quyền thế tập nhưng Lạc tướng không xa lạ với dân chúng trong vùng hiểu từng lời ăn tiếng nói của họ. Họ là những người phải lên rừng săn kiếm sừng tê ngà voi phải xuống biển lặn mò ngọc trai hải sản quí hiếm. Họ nhiều khi phải nhịn ăn phải lấy vải sui che thân để cho Lạc tướng được no ấm. Vậy mà lắm khi vì sự yên ổn của mình lạc tướng đã bắt ép họ lên rừng xuống biển cố kiếm tìm nhiều đồ triều cống. Kể từ thời nhà Triệu người Việt đã lớn lên nhiều đã biết đoàn kết với nhau đã có ý muốn tự chủ. Khi nhà Triệu bị diệt nước Nam Việt thuộc Hán Tích Quang được bổ làm Thái Thú chế độ cai trị còn lỏng lẻo người Việt vẫn giữ quyền cai trị dân Việt dân Việt vẫn sống theo lề thói của mình thì việc chống lại nhà Hán lật đổ Tích quang e còn khó khăn. Lạc tướng biết rằng việc phục hồi lại giang sơn nhà Hùng là việc lâu dài thành thử ông hết sức chăm lo cho Trắc biết đâu đến đời cô thì sự nghiệp sẽ thành.

Lạc tướng nhớ lại câu hát ông đặt:

Gióng hỏi tướng giặc Ân

Sao xâm phạm bờ cõi

Đất ta đời tiếp nối

Sách Trời ghi rõ rành

Chúng bay quân vô đạo

Sẽ bị đánh tan tành...

Hay đấy có thể sẽ là gợi ý cho một lời hịch truyền. Nghĩ vậy Lạc tướng bèn thúc cho ngựa phi mau. Hai tên kị sĩ theo hầu hứng tình hát vang:

Ngựa phi đường xa

Người đẹp chờ ta

Ngã đâu là nhà...


          XIII-

Chiều ngày mười bốn thầy trò Lạc tướng Mê Linh đến thành Liên Lâu vào nghỉ ở trạm dịch.

Khi Lạc tướng Mê Linh xuống ngựa giao cương cho một kị sĩ quay ra thì có một vị Huyện lệnh cưỡi ngựa ào đến như một cơn lốc. Vị Huyện lệnh ghìm cương khiến con ngựa hí vang hai vó trứơc cất cao như sắp bay lên. Người này phi thân xuống ngựa nom nhẹ nhàng như một con ưng đáp xuống. Lạc tướng Mê Linh bước lên chắp tay cung kính nói:

"Xin chào Huyện lệnh An Biên!"

Huyện lệnh An Biên đáp lễ:

"Xin chào Lạc tướng từ ngày chia tay Lạc tướng ở Cửu Chân thế mà đã một năm rồi!"

Lạc tướng đáp:

"Thời gian trôi đi nhanh quá nhanh như con ngựa Xích Thố không có cách nào đuổi kịp."

Huyện lệnh An Biên:

"Miền Hải Đông chúng tôi năm ngoái bị lụt to cây lúa chết mất quá nửa. Đến ngay nhà quan cũng bị đói."

Lạc tướng Mê Linh đỡ lời:

"Tôi đã qua miền Hải Đông mấy lần. Vùng ấy đất trũng nên tăng thêm nghề câu nghề chài lưới..."

Bỗng có một giọng nhẹ nhàng cất lên từ phía sau:

"Lạc tướng Mê Linh ông nói chí phải."

Hai người vội ngoảnh lại thì ra đấy là Huyện lệnh Chu Diên.

Quán dịch ở Liên Lâu mới xây dựng xong hướng trông ra hồ Liên Trì bên kia hồ là một rẫy các quán rượu của người Giao Chỉ và người Phiên Ngung được phân biệt bởi những lá cờ treo cao trước cửa. Tối ấy trong khi chờ đợi sáng hôm sau ra Trị sở chờ nghe Thái thú tuyên đọc các khoản cống nạp và sai dịch các Huyện lệnh Huyện trưởng rủ nhau từng tốp sang quán rượu.

Lạc tướng Mê Linh cùng các huyện lệnh An Biên Chu Diên kéo nhau vào một quán rượu của người Phiên Ngung. Quán làm sát tận mép nước bàn thấp ghế ngồi thấp. Trước khi thực khách đi vào chỗ ngồi phải qua nơi nhà hàng chế biến sực nức mùi xào nấu mùi thịt nướng. Thấy đám khách do Lạc tướng Mê Linh dẫn đầu bước tới chủ quán khăn vắt vai miệng cười tươi gọi với vào trong xếp chỗ tốt cho ba quí khách rồi vồn vã chào:

"Cảm ơn tam vị Huyện lệnh chiếu cố tửu quán mời đi hướng này với tôi."

Ba vị thực khách thấy được tiếp đãi vồn vã tử tế lấy làm hài lòng đi sâu vào phía trong. Chủ quán xếp cho các vị ngồi vào chiếc bàn ngay bên hồ nhìn thấy quán dịch phía bên kia thấp thoáng sau hàng liễu rủ. Mặt hồ mới lác đác những tấm lá sen xanh non hiếm hoi nhô lên một vài bông còn e ấp đỏ. Chủ quán nói:

"Thưa các vị huyện lệnh tửu quán chúng tôi có các loại rượu chân quí chuyên chở từ Trung Nguyên sang có cả rượu cổ truyền Giao Chỉ do người Hạ Đan cất nấu. Thức nhắm sơn hào thì có thịt nai khô móng giò lợn sấy cuống tim trâu rừng tẩm thuốc bổ... Vâng quán chúng tôi chỉ bán sơn hào. Kính thưa các vị huyện lệnh nếu các vị có dịp đi Phiên Ngung hay Trường Sa các vị nên tránh các quán bầy bán đầy đủ các thứ đồ ăn đủ cả sơn hào hải vị đó là hàng tạp không chuyên một cái gì cả đã không chuyên là không ngon...Tam vị uống rượu gì ạ?"

Huyện lệnh Chu Diên bảo:

"Cho chúng ta một bình rượu Ngật Sơn. Rượu ủ trong hang Ngật Sơn năm năm trở lên nhé."

Chủ quán suýt xoa:

"Các vị thật là sành rượu. Rượu Ngật Sơn hâm nóng nhắm với thịt nai khô sẽ rất tuyệt đấy ạ."

Lạc tướng Mê Linh gật đầu:

"Được rồi ông làm thêm món ngó sen nữa nhé. Bảo chúng nó mau đem rượu lên đây."

Huyện lệnh An Biên từ đầu ngồi im khi chủ quán đi rồi mới nói:

"Dân Phiên Ngung thật biết buôn bán chiều khách như chiều... chủ. Dân mình không bằng họ."

"Có rượu Ngật Sơn đây ạ!"

Tên tửu bảo đưa rượu đến bầy chén rồi rót rượu cúi thấp đầu:

"Xin kính mời ba vị xơi rượu."

Huyện lệnh Chu Diên bảo:

"Cho chú mày lui ra cần gì thêm sẽ gọi."

Ba vị huyện lệnh cùng nâng chén. Lạc tướng Mê Linh nói:

"Con đường chúng ta chọn dài xa và khúc khuỷu. Vậy chúc cho chân cứng đá mềm."

Uống hết lưng bình rượu ba vị hơi ngà ngà say. Huyện lệnh An Biên xuất thân là dân đánh cá biển ăn sóng nói gió tính khí mạnh mẽ. Ông nhìn hai người bạn hỏi:

"Trai tráng ở huyện các ông có nhiệt tâm hưởng ứng không?"

Ông Chu Diên từ tốn:

"Cũng còn nhiều cái khó. Nơi làng chạ hương thôn phong tục tập quán khác nhau có nơi người đứng đầu vẫn là đàn bà người ta chưa phải ai cũng không ưa Tích Quang. Thành thử còn lỗ mỗ lắm phải chờ đợi chờ đợi."

Lạc tướng Mê Linh biểu đồng tình nói thêm:

"Nói dân đen là nói vậy thôi. Vấn đề của chúng ta là làm sao cho các già làng các người đứng đầu tộc họ ngả theo. Những người này ngả theo là chúng ta thắng."

Cuối cùng bình rượu cũng dốc đến đáy ba người lảo đảo đứng dậy. Lúc bước ra khỏi quán huyện lệnh An Biên ngất ngưởng hỏi:

"Hai vị có đi chơi tiếp không?"

Huyện lệnh Chu Diên hỏi:

"Chơi gì?"

Huyện lệnh An Biên bảo:

"Chơi gái. Toàn gái đưa từ Trường Sa sang thôi ngón nghề tuyệt trần đời. Lạc tướng có đi không?"

Lạc tướng thủng thẳng:

"Nghe nói thời Tiên Tần ra trận đánh giết được tướng địch thì bắt vợ về làm thiếp chiếm được thành thì giết chồng cướp vợ. Khi năm mươi vạn quân Tần xuống chiếm Lĩnh Nam vua Tần cho đưa hàng vạn đàn bà theo để mua vui. Đàn bà trở thành thứ sở hữu của đàn ông thành thứ đồ chơi. Ở ta bây giờ đàn bà là chủ gia đình còn làm chủ cả làng chạ hương thôn. Hai ông cứ đi đi..."

Huyện lệnh Chu Diên nghe Lạc tướng nói vậy bèn gàn huyện lệnh An Biên:

"Thôi say rồi về nghỉ."

Vậy là ba người dìu nhau lảo đảo đi về dịch quán.

Sáng hôm sau. Các huyện lệnh và huyện trưởng tề tựu đông đủ nơi sân rộng lát đá xanh của Trị sở. Đứng đầu huyện có dân trên một vạn hộ là huyện lệnh dưới một vạn hộ gọi là huyện trưởng). Lúc ấy còn sớm Thái thú chưa thăng đường. Các quan huyện đều là người Việt theo thứ bậc xếp hàng hai bên chờ đợi. Một huyện lệnh nói:

"Nghe nói năm nay lễ vật cống nạp đều nhiều hơn năm ngoái. Giáp hạt tháng ba e không ít dân phải bán sới."

Huyện lệnh An Biên bàn:

"Phải đòi khoan sức dân nếu không ắt loạn."

Một huyện trưởng quay sang hỏi Lạc tướng Mê Linh:

"Lạc tướng đã giáp mặt viên đô uý mới từ Trung Nguyên sang chưa? Nghe phả pheo viên quan này hiểm ác và hiếu thắng...."

Lạc tướng Mê Linh trầm ngâm:

"Các quan cai trị ai mà không hiểm ác."

Đám đông mỗi người một câu khiến không khí nơi công đường trở nên ồn ào. Chợt một viên quận thừa bước ra cao giọng:

"Quan Thái thú thăng đường!"

Không khí lắng xuống. Tích Quang từ trong tươi cười bước ra cùng đi còn có viên Thái Thương Lệnh Lục An và viên đô uý. Tích Quang nói:

"Đầu xuân quan Thái Thú và quan Thái Thương Lệnh chúc mừng các Huyện lệnh Huyện trưởng."

Mọi người đồng thanh đáp:

"Chúc quan Thái thú và quan Thái Thương Lệnh mạnh khoẻ mãi mãi."

Tích Quang cùng Lục An ngồi xuống chiếc ghế trải da hổ rồi bảo viên quận thừa:

"Tuyên đọc các lễ vật phải cống nạp."

Viên quận thừa mở sổ bước lên trước một bước rồi đọc:

"Hoàng đế nhà Tân năm Thiên Phụng thứ nhất..."

Giọng viên thư lại vang lên chát chúa như từng nhát búa gõ vào tường đá. Gương mặt các huyện lệnh và huyện trưởng đều căng thẳng. Viên quận thừa đọc xong hỏi:

"Chư vị đã nghe rõ cả rồi chứ?"

Huyện lệnh Chu Diên đưa mắt nhìn mọi người rồi bước ra chắp tay nói:

"Bẩm quan Thái thú hạ quan nghe rõ năm nay cống phẩm đòi hỏi đều gấp rưỡi gấp đôi các năm trước dưới thời vua Hán. Dân huyện An Biên như đứa trẻ lên mười mà phải gánh việc của một tráng niên tuổi ba mươi làm sao gánh nổi. Vả lại muông thú trên rừng tôm cá dưới biển sinh đẻ có mùa. Thế mà năm nào để có cống phẩm cũng phải săn bắt vào mùa chúng sinh đẻ thành thử muông thú tôm cá cũng cạn kiệt dần. Trình quan Thái thú vậy mà cống phẩm cứ thu năm sau lại nhiều hơn năm trước dân chúng huyện hạ quan làm sao mà kiếm đủ. Xin Thái thú soi xét."

Các Huyện lệnh và huyện trưởng đồng thanh:

"Xin Thái thú soi xét!"

Tích Quang sầm mặt:

"Đấy quan Thái Thương Lệnh tận mắt nhìn xin về tâu trình với triều đình đời sống của quan lại ở Lĩnh ngoại thật sự là đạm bạc."

Lục An cười không đáp. Lát sau Tích Quang lấy lại vẻ tươi cười nói:

"Lạc tướng An Biên có lí. Ta sang Giao Chỉ đã được mười năm hơn chung sống với các ông. Ta hiểu rõ bụng các ông. Để ta dâng biểu tâu với triều đình xin miễn giảm một phần."

"Bây giờ ta có điều muốn nói cùng các ông. Ta vâng mệnh triều đình nhà Hán qua Giao Chỉ cai trị. Lúc ta đến dân các ngươi sống có khác gì lũ man di mọi rợ. Ta thương coi dân chúng như con cái dạy cho chúng cách cày ruộng trồng lúa cưới vợ gả chồng theo phong tục Trung Nguyên. Họ ăn no các ông được nhờ ta cũng được nhờ. Ta khuyên các ông phải nhớ mà khuyên nhủ dân chúng gắng noi theo. Nay nhờ ân điển của Hoàng thượng nhà Tân ta tuyên bố mở trường học ở Luy Lâu. Trường chỉ thu nhận con em các quí tộc người Việt vậy các ông phải có trách nhiệm đưa con em tới học. Triều đình trông chờ ở các ông."

Viên quận thừa xướng to:

"Đội ơn quan Thái thú!"

Các quan viên người Việt cũng xướng theo:

"Đội ơn quan Thái thú."


         XIV-

Lưu lại ở Giao Chỉ chừng hơn một năm Lục An nhận được tin của quan  Đại Tư Nông nói phải thu xếp về Kinh gấp. Tích Quang mở tiệc to tiễn đưa. Nhân rượu ngà ngà say Lục An hát một tiểu điệu của người Thổ Trước mà y mới học được:

Con gái

tóc xoã chấm khoeo

lưng eo ong đất

mắt đen hạt na

làm ta sướng nhất...

Tích Quang nghĩ thầm quan Thái Thương Lệnh mê tít gái hoang rồi bèn nâng chén nói to:

"Lục đại nhân đặt lời hay lắm hay lắm."

Lục An ngất ngư:

"Thái thú đúng là người tri kỉ."

Sáng hôm sau Tích Quang tiễn Lục An ra bến thuyền tặng thêm cho y một con hầu gái nữa.

Con thuyền kéo buồm chạy về hướng đông. Một năm ở Giao Chỉ Lục An thu thập được bao nhiêu thứ của ngon vật lạ được hưởng mọi sự khoản đãi sung sướng hân hoan. Chỉ có một điều Lục An thấy lo canh cánh. Một lần Lục An nói với Tích Quang:

"Triệu Đà theo chân Nhâm Ngao vào Ngũ Lĩnh có mấy năm mà ăn ở sinh hoạt như người bản địa đến lúc chiếm được đất Lĩnh Ngoại lập cơ đồ riêng xưng vương mà không biết lễ nghĩa phép tắc. Cái đất này không phải là đất lành. Quận Thú ở đây mười năm trời vẫn giữ được cốt cách người Hán là phúc lớn đấy."

Tích Quang đáp:

"Hạ quan đã cố đem những giáo lí của bậc Thánh nhân để giáo dưỡng mở mang đầu óc cho dân Âu Lạc nhưng một là vì lối sống của chúng phóng khoáng tự do hai là bọn chúng còn trong tình trạng mông muội ngu tối. Thời Tần Thuỷ Hoàng nhà vua đã đưa hàng vạn nữ nhân hàng ngàn người tù hàng trăm quan lại bị biếm chức xuống Lĩnh Ngoại để chung sống nghĩ rằng nhờ đó mà có thể đồng hoá nhưng cũng chẳng đáng kể gì."

Lục An nghĩ Tích Quang có lí. Thời Thuỷ Hoàng tiến quân chiếm Lĩnh Nam tiếng là đánh chiếm được nhưng không giữ được là vì đường sá xa xôi là vì thuỷ thổ không hợp là vì dân Việt không chịu qui phục. Đặc biệt là đất Giao Chỉ kể cả Tần Vương kể cả Triệu Đà đều không thể cai trị trực tiếp Thái thú Tích Quang là một viên quan mưu lược khôn khéo nhưng cũng chỉ là viên quan thanh tra còn ở dưới làng xóm ở dưới hương huyện người Việt làm gì người Việt sống thế nào Tích Quang làm sao biết được. Gã nghĩ việc này phải làm bản tấu. Nhưng mà liệu Vương Mãng có đủ sức vươn tay đến được Giao Chỉ hay không? Gã tự bảo hãy gác lại một bên.

Lục An ở Giao Chỉ một năm nhiễm phải bệnh đau khớp. Tích Quang mua quả ý dĩ cho ăn thấy đỡ. Lúc xuống thuyền Tích Quang còn chạy theo đưa cho gã một bịch lớn bảo:

"Quan Thái Thương Lệnh về Kinh chẳng thiếu gì thuốc quí nhưng cái bệnh quan mới nhiễm là bệnh phương Nam chỉ có thuốc Nam mới chữa khỏi vậy xin đại nhân đừng câu nệ hãy mang theo những quả ý dĩ