NỖI SỢ BƯỚC SANG ĐƯỜNG

 

I-

Libusska là con đường quen thuộc đối với trên ba ngàn người Việt làm ăn sinh sống ở chợ Sapa một con đường nhỏ nằm ở vùng ngoại biên quận 4 (Praha 4). Phường Viletni thuộc khu Pisnice nơi gia đình tôi cùng một số người Việt và người Hoa cư ngụ nằm bên trái đường hướng đi trung tâm Praha là cụm các toà nhà năm sáu tầng giản dị với những khoảng lưu không rộng rãi thừa thãi cỏ và cây xanh xe ô tô đỗ kín hai bên lối đi nội bộ. Muốn đi lên trung tâm Praha phải đón xe buyt số 113 ở bến U Libus hoặc Libus hoặc mấy ga gần đó chạy khoảng hai lăm phút thì đến ga cuối Kacerov rồi chuyển đi tầu điện ngầm đến ga Bảo tàng quốc gia trung tâm thành phố. Libusska là một con đường không lớn rộng chỉ cho hai làn xe ô tô xuôi ngược lúc nào cũng nhộn nhịp vì thế muốn đi sang đường phải hết sức cẩn thận.

 

Lần đầu tiên sang châu Âu nên nói đến đi sang đường là tôi thấy ngại. Tôi có một nỗi sợ thường trực. Cách đây không lâu một nữ nhà thơ bạn tôi ở trung tâm Hà Nội đi tập thể dục buổi sáng đi  sang đường ở khu phố cổ bị xe máy húc ngã chấn thương đầu may mà nhẹ nên hồi phục được. Nhà thơ nghe dân phố kể lại chị bị hai cô gái đi xe máy phóng nhanh húc tung lên khỏi mặt đất ngã xuống bất tỉnh nhân sự đâu độ 15 phút nhưng hai cô gái bỏ mặc phóng chạy thẳng. Trước đấy chồng của một nhà báo khuya thèm thuốc xuống đường qua bên kia mua bao thuốc lá bị một cậu choai choai đi xe máy húc ngã đưa vào bệnh viện cấp cứu thì mất. Nỗi sợ của tôi lại càng được gia cố thêm khi giáo sư- viện sĩ Nguyễn Văn Đạo bị xe máy đâm chấn thương sọ não chết và ít ngày sau đó một giáo sư toán học người Mỹ đi sang đường cũng bị xe máy đâm bất tỉnh nhân sự đến nỗi người nhà đưa ông về Mỹ ông vẫn nằm thiêm thiếp chẳng biết trên đời đã có thêm bao nhiêu bài toán không tìm được lời giải. (Không hiểu sao phần lớn những tai nạn kiểu như trên đều là do xe máy? Xe máy cũng thải ra đến trên 80% khí thải ô nhiễm trong thành phố!). Hàng ngày nhan nhản những tin tai nạn giao thông cứ nghĩ là thấy khiếp vì tai nạn đâu có chừa ai...

Ở Praha chỗ nào tôi cũng có thể gặp người Việt Nam trên xe buýt trên tầu điện ngầm trên xe điện các bến đợi tầu đợi xe đi lẻ hoặc đi nhóm cười nói oang oang. Ông H. bán nước ở chợ Sapa nói người Việt có cái tính hồn nhiên chỉ biết có mình dường như không biết quanh mình còn có những người khác hạng người khác.

Theo các tài liệu chính thức người Việt định cư hoặc tạm cư ở Cộng hoà Séc khá đông khoảng 60.000 người. Nhưng thực tế thì chắc đông hơn có người bảo là 70.000 người.

Người Việt vào làm ăn ở Séc đông hình thành một cộng đồng người thiểu số đông hàng thứ ba tự gọi là "Xù" người mới đến gọi là "Xù tươi" người ở lâu gọi là "Xù mốc"... Người Việt vào Séc đem theo vào văn hoá (phong tục tập quán) riêng đem theo cả những thói tật không phù hợp hàng ngày hàng giờ vẽ nên bức tranh nhiều mầu sắc về người Việt ở Đông Âu và châu Âu.

Ở Việt Nam tôi thấy người Việt ta có thói quen mỗi khi cần sang đường là cứ bước ào qua nếu không có giải phân cách có thì trèo nhẩy chui... bất biết xe nhiều hay ít chạy nhanh hay chạy chậm. Mấy người nước ngoài bảo người Việt thật to gan không sợ chết. Lại bảo người Việt Nam mù mầu không thấy đèn đỏ không thấy các vạch sơn kẻ cho người đi bộ qua đường.

Mỗi lần tôi ra chợ Sapa thường được ông H. mời một cốc nước nhân trần hãm khéo rồi bảo kể chuyện quê nhà chuyện gì ấn tượng ấy. Một lần tôi kể chuyện nỗi thống khổ sang đường.

Ông H. không ngạc nhiên bảo nhà ông ở gần ga Giáp Bát sang đường cũng thật cơ khổ. Ông nói mình ở châu Âu chỉ làm anh chuyên bán nước vối nhân trần trà "Xù"... phục vụ bà con ở chợ hai mươi năm nay nhưng ra phố đi lại theo phép tắc châu Âu quen dần về quê thấy sợ những cây đèn tín hiệu vạch kẻ chỉ dẫn giao thông chẳng còn có nghĩa lí gì với dòng xe máy ô tô chạy cứ như ăn cướp. Ở châu Âu có cảm giác những thứ nói trên như bảo vệ mình như tạo cho mình sự tự tin thì ở Việt Nam nhiều lúc chả là cái thá gì hết.

Ừ nhỉ tại sao người Việt mình ở nhà đi như vậy đã quen mà sang đây lại chịu khép mình vào khuôn khổ? Để trả lời câu hỏi ấy ông H. hỏi tôi mỗi lần ông đi ra đường con cháu dặn ông những gì? Tôi đáp chúng dặn đi sang đường phải chú ý không giống như ở Việt Nam qua đường không đúng luật xe có đâm phải cũng không bắt đền ai được đâu mà còn phải xuất tiền túi ra bồi thường mọi thiệt hại do mình gây nên. Ông H. cười bảo đúng thế châu Âu nó khác mình ở chỗ ấy đấy.

Đi sang đường quả đã trở thành vấn đề của người Việt.
 

II-

Thực ra đi sang đường chỉ là một vấn đề của vấn đề giao thông Việt Nam. Nhưng nó là cái rốn của giao thông Việt.

Tham gia giao thông ở Việt Nam luôn ngay ngáy nỗi lo không chỉ là nỗi lo của người đi bộ mà còn là nỗi lo của người lái ô tô ngồi ô tô đi môtô đi xe đạp. Trước hết là nỗi lo tắc đường. Hà Nội tp Hồ Chí Minh tắc đường giờ cao điểm tắc đường ngày khai trường tắc đường vì ngập lụt tắc đường vì lễ hội. Tắc đường ở các trạm thu phí. Tắc đường vì một đàn bò đi vào phố...Triền miên. Tiếp đến là nỗi lo ô nhiễm do khí thải của xe cộ. Đến nay Việt Nam vẫn đang lúng túng trong việc kiểm soát lượng khí thải xe ô tô mới áp dụng theo tiêu chuẩn  EURO 2 còn ngót 30 triệu xe máy thì vô phương. Theo một tài liệu đã được công bố khí thải ô nhiễm do xe máy thải ra chiếm đến hơn 80% toàn bộ khí thải.

Tiếp đến là lo xẩy ra tai nạn. Những tai nạn xe khách ở Việt Nam làm thiệt mạng hàng chục khách du lịch nước ngoài những vụ đấu đầu xe khách xe tải những vụ đụng xe kinh hoàng làm tắc nghẽn giao thông cả ngày trời những vụ xe ô tô lao vào nhà dân xe buýt đè người xe côngtenơ cán người xe lao xuống sông xuống hồ lái xe ô tô cố tình đâm vào cảnh sát giao thông... nhiều không kể xiết. Số người chết hàng năm nghe xong là rùng mình. Nói vậy có người lại bảo nói hớt. Vậy xin dẫn cụ thể mấy số liệu. Theo tổng kết của cơ quan an toàn giao thông trong ba năm gần đây số người chết do tai nạn giao thông ở Việt Nam như sau: Năm 2006 là 13 890 năm 2007- 13 150 và 2008- 11 138. Tính bình quân mỗi năm số người chết do tai nạn giao thông là 12 726 chiếm khoảng 0.015% dân số đất nước. Ở đây chưa kể số người chết do tai nạn giao thông thuỷ.
Nhân dịp sang châu Âu tôi bèn tranh thủ đi thăm cô em gái ở thành phố Đijon miền trung nước Pháp cách Pari trên 300 km. Máy bay từ Praha hạ cánh xuống ga hàng không S. Đờgôn vào khoảng hơn 7h tối chuyển sang xe tắcxi chạy lên đường cao tốc Pari- Lyon mất chừng 3h đồng hồ thì đến nơi. Nước Pháp có hệ thống đường cao tốc khoảng 7000 km gọi là autoroute hạn chế tốc độ tối đa là 81mph (khoảng 130km/h). Cảm giác ngồi xe chạy trên đường cao tốc như trôi trên dòng sông ánh sáng rực rỡ rất phấn khích. Cộng hoà Séc là một đất nước nhỏ rộng 78 866 km2 có mạng đường cao tốc xấp xỉ nước Pháp dài 6 174 km. Có lẽ mạng đường cao tốc ở CHLB Đức thuộc loại dài nhất châu Âu hệ thống Auto bahn của Đức dài 11 980 km. Tôi đã ngồi ô tô từ Praha qua Berlin chỉ mất 6 giờ đồng hồ.

Xe chạy trên đường cao tốc thường lúc nào cũng giữ tốc độ ở khoảng 130- 140 km/h hầu như không có ách tắc. Đường cao tốc phần lớn chạy qua rừng qua những cánh đồng hai bên được rào bằng dây kẽm gai để ngăn người hoặc thú chạy qua có những cửa khẩu để xe rẽ đi tuyến khác hoặc nhập vào hoàn toàn không có giao cắt đồng mức. Xe chạy trên đường cao tốc không được dừng lại một cách tuỳ tiện như ở Việt Nam thích dừng giải quyết "nỗi buồn" ở đâu thì dừng phải dừng ở trạm nghỉ. Lái xe ở châu Âu luôn tuân thủ luật đi theo đúng làn đường chỉ dẫn sẵn sàng nhường đường cho xe có tốc độ cao hơn.

Lẽ dĩ nhiên giao thông ở châu Âu cũng vẫn xẩy ra ùn tắc và tai nạn. Giờ cao điểm đi ra hoặc vào thành phố Praha thường ùn tắc vì có rất nhiều xe tải và xe congtenơ. Nhưng không có chuyện ô tô chen lấn. Tôi cũng đã chứng kiến một cảnh ùn tắc trên đường cao tốc vào Berlin do sửa đường đó là bất khả kháng. Chẳng hạn 296 chiếc xe ô tô đụng nhau trên đường cao tốc ở Đức hồi tháng 6 năm 2009 hay các vụ tai nạn ô tô của công nương Điana ở Pháp của cầu thủ bóng đá C. Ronaldo ở Anh. Thống kê của cảnh sát CH Séc trong các tháng 5 từ năm 2005 đến năm 2009 số người chết do tai nạn giao thông lần lượt là 89 85 73 82 và 61. Con số người bị chết do tai nạn giao thông ở Ba Lan trong năm 2007 là 4.900 người năm 2008 có 4.800 người chết. Đó là những rủi ro cũng là một thứ qui luật xã hội chỉ có khống chế giảm thiểu chứ tuyệt nhiên không thể xoá bỏ.

Ở nước đang phát triển như Việt Nam do hệ thống đường xá lạc hậu do hệ thống điều hành còn nhiều bất cập do ý thức người tham gia giao thông kém thì việc ùn tắc và tai nạn giao thông triền miên là điều hiển nhiên. Nhưng chúng ta phải tiến lên một xã hội phát triển đường cao tốc phải nhiều xe cá nhân phải lắm. Thống kê cho thấy ở Séc dân số cỡ trên 10 triệu người số ô tô cá nhân là 4 5 triệu chiếc. Khoảng 450 xe/ 1000 người. Bồ Đào Nha là nước có tỉ lệ xe ô tô trên 1000 dân cao nhất thế giới: 773 xe. Con số đó ở Mỹ là 755 Lucxembourg- 727 Aixolen- 719 Italia- 666 Slovennia- 598 Pháp- 595... Theo số liệu của một nhà quản lí ở Việt Nam số xe ô tô cá nhân hiện nay là 980 000 chiếc tỉ lệ rát thấp. Vậy mà tôi đã nghe và đọc không biết bao nhiêu lần ý tưởng của các nhà quản lí tìm cách hạn chế phương tiện cá nhân thay thế bằng phương tiện giao thông công cộng coi đó là mục tiêu phấn đấu. Ngẫm nghĩ thấy thật là ảo tưởng và thiển cận!

III-

Ông H hỏi tôi có nhận xét gì mỗi khi băng qua đường sang chợ? Tôi nhớ hôm đầu tiên sang đường ở Libus để vào chợ Sapa.

Nơi tôi định qua đường không có đèn tín hiệu điều khiển giao thông. Đang phân vân vô tình tôi bước chớm xuống đường đặt chân lên những vạch sơn trắng toát. Bất ngờ thấy hai giòng xe ngược xuôi đều dừng cả lại. A ha những chiếc xe cơ giới nhường đường cho tôi băng ngang người đi bộ đã được tôn trọng. Sau này khi tôi lên trung tâm Praha hay qua Pháp qua Đức dù ngôn ngữ bất đồng nhưng đối với việc lưu thông trên đường mọi người đều có chung hành động đứng chờ trước đèn đỏ đi sang đường ở những nơi qui định. Ông H. cười ròn bảo rằng thứ ngôn ngữ đó ông cũng thạo như mọi người.

Đúng vậy ngôn ngữ trong giao thông chính là luật là những biển hướng dẫn và báo hiệu. Tôi thấy những biển hướng dẫn và báo hiệu ở Séc và Việt Nam chẳng khác gì nhau. Trong bộ luật giao thông của ta có qui định nhường đường cho người đi bộ nhưng hình như các lái xe của chúng ta không có thói quen ấy. Những tai nạn giao thông xẩy ra ở ta (phần lớn) là do người lái vi phạm luật giao thông như đi quá tốc độ đi sai làn đường vượt ẩu uống rượu say vẫn lái xe. Giáo sư toán Hoàng Xuân Sính có một nhận xét giáo dục ở ta ngay từ cơ sở đã được dạy học phải trả bài theo đáp án nếu không trả bài theo đáp án thì bị điểm xấu. Do cách dạy đó đã làm mất khả năng sáng tạo của học sinh. Nhưng dạy học như thế đáng ra phải tạo cho con người có thói quen tuân lệnh có thói quen chấp hành chứ? Nhưng thực tế lại không phải. Vì đấy là thứ học... giả thành một thứ cưỡng bức thành gánh nặng mà trẻ buộc phải gánh chứ thực tâm muốn trốn tránh thành thử không thể tạo cho con trẻ một thói quen tốt một đạo đức xã hội tin cậy.

Luật giao thông và luật pháp nói chung như bộ khung đỡ ngôi nhà xã hội nếu không được duy trì thì ngôi nhà có cơ sụp đổ. Luật giao thông ở Việt Nam không được mọi người tôn trọng dĩ nhiên dẫn đến sự rối loạn.

IV-

Sự rối loạn gây ra tai nạn tạo nên nỗi sợ hãi. Ông H. nhận xét ở nước ta có chuyện kì lạ kẻ gây ra tai nạn giao thông lập tức nhẩy xuống xe bỏ chạy. Tôi bảo ấy là do gã sợ bị người nhà người bị nạn trả thù. Ông H. nói nhưng luật qui định phải giữ hiện trường phải tìm mọi cách cấp cứu người bị nạn bỏ chạy là phạm luật mặc người bị nạn nằm tại hiện trường có thể chết vì không được cấp cứu kịp thời. Chuyện không có gì khó hiểu đối với người Việt sự an nguy của cá nhân của gia đình luôn được đề cao hơn mọi giá trị cộng đồng. Đó có thể là một thứ chướng ngại bước từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại. Đó là nỗi sợ bản năng. Mặt kia của nỗi sợ là nỗi sợ xã hội do hậu quả mà nó mang lại cho gia đình cho băng đảng cho bè nhóm.

Luật pháp về bản chất phải công bằng qui định lối hành sử của mỗi con người và con người với con người. Luật pháp cũng qui định những chế tài những hình phạt có tính răn đe cũng là có phần khai thác cái sợ mà con người luôn phải đối mặt. 

Ông H. trầm ngâm nói rằng xưa nay những chế độ cực quyền ngoài tiếp thu có chọn lọc các cách "trị"  dân truyền thống như tù đầy chém giết đã nói ở trên còn phát minh ra các cách có vẻ văn minh nhưng thâm độc hơn là tẩy não và cải tạo. Con người được tẩy não và cải tạo luôn có mặc cảm tối tăm thấp kém luôn nghĩ phải được ai đó thông minh hơn sáng tạo hơn giỏi hơn dẫn dắt. Người bị tẩy não và cải tạo chỉ có biết phục tùng chỉ có tin mù quáng trở thành bầy cừu do mấy kẻ chăn và một bầy chó săn dẫn dắt. Mục tiêu cuối cùng của kẻ thống trị là gieo rắc nỗi sợ hãi làm nhụt ý chí... khiến con người tự đào hố chôn mình.

"Đấy mới là nỗi sợ chính!"- Ông H. kết luận.
(Bản in trên Báo Văn nghệ đã được cắt bớt.)