Truyền thuyết làng Hạ Đan

Truyền thuyết làng Hạ Đan
                                                                     Truyện ngắn

         Lão Rừng bao nhiêu tuổi không ai biết và tên thật của lão là gì cũng chẳng ai hay. Dân làng Hạ Đan sở dĩ gọi lão là Rừng trước hết vì râu tóc lão rậm rịt như đám mây gai đố ai có thể gỡ ra được. Người ta lắc đầu chẳng rõ lão có biết được rằng loài người đã từng phát minh ra cái lược không? Người lão cóc cáy đến bậc con gái mỗi khi có việc phải đi qua nơi lão ở là lấy nón che mặt bọn nhóc không dám chơi với lão nhưng lại hay trêu trọc lấy sỏi lấy đá ném lão nhưng ở mãi từ xa. Nghe đâu trước kia lão có một ngôi nhà to và đẹp ở cái chỗ đẹp nhất giữa làng. Chẳng hiểu vì lý do gì lão lại bán đi để dọn vào tút hút trong rừng làm bạn với chồn cáo.  Ngày ngày lão vào rừng kiếm củi đặt bẫy chim đào củ mài. Lão hoàn toàn sống nhờ rừng gần như xa lánh cuộc đời. Nghe những người lớn tuổi ở Hạ Đan nói lại thì thời trẻ lão cũng có vợ có con. Nhưng một số người thì bảo làm gì có. Không tin cứ tìm khắp xem nếu lão đã từng có vợ thì họ hàng nhà vợ phải có chứ. Lời nói nghe có lý nhưng lão sống sờ sờ ra đấy sao chẳng thấy họ hàng lão đâu? Vậy là bế tắc.
Làng Hạ Đan còn có một ông gìa nữa cũng cổ quái không kém. Ông lão râu tóc bạc phơ ngụ trong một ngôi nhà gỗ cổ kính duy nhất như một ngôi chùa cổ được bao quanh bởi một khu vườn trúc riêng một qủa đồi. Khi tôi lớn lên cho đến trước lúc đi xa khỏi làng do một dịp tình cờ nào đấy có nhìn thấy ông già đó một lần. Một ông lão râu tóc bạc phơ. Sau mấy chục năm xa quê trở lại nghe nói ông lão vẫn như xưa. Bọn trẻ trong làng kêu bằng ông gìa rừng trúc. Ông gìa rừng trúc không thích giao du. Con cháu chẳng có cũng giống như lão Rừng ông sống theo kiểu tự cung tự cấp.
          Tôi sinh ra ở làng Hạ Đan được bố mẹ chắt bóp ky cóp nuôi cho ăn học. Nhưng vì làng không có trường từ bé tôi đã phải đi trọ học trên huyện rồi trên tỉnh. Học xong kiếm được việc làm ở thành phố. Công việc một phần lười nhác một phần ngại cuộc sống rừng rú thiếu tiện nghi một phần khiến tôi ít khi về quê. Tự nhiên đối với quê hương mình trở thành kẻ xa lạ. Ngoài họ hàng gần gũi tôi chẳng biết ai hết. Những chuyện thực thực hư hư về hai ông già bí ẩn mà tôi vừa thuật ở trên đều do mẹ tôi kể cả. Tôi lang thang khắp nơi làm đủ mọi việc những chuyện mà mẹ tôi kể cứ nhoà dần đi. Nhưng từ khi theo đòi nghề văn trở thành một người viết hai ông già làng Hạ Đan quê tôi bỗng có một cái gì đó hấp dẫn khiến tôi không thể không quan tâm tìm hiểu.
          Thoạt đầu tôi tìm gặp lão Rừng. Đó là một buổi sáng. Lão già chặn tôi lại ở trước cửa đôi mắt vằn lên những tia đùng đục đầy thù địch. Tôi xưng danh nói rõ là con cái nhà ai ở trong làng. Lão Rừng nhìn tôi từ đầu đến chân cái ánh thù địch vẫn không chịu tắt. Tại sao lão Rừng lại giữ thái độ như vậy nhỉ? Có lẽ do lối ăn mặc theo kiểu thành phố của tôi chăng. Một lúc lâu lão mới cất tiếng nhưng cụt lủn:
          - Không có biết. Thế muốn gì?
          Tôi mềm mỏng:
          - Cháu tới thăm. . .
          - Miễn cho!
          Nói rồi lão khép cửa thắt bao dao bước thẳng ra cổng. Tôi im lặng đi theo lão một đoạn cố gợi chuyện. Nhưng lão Rừng bỗng như hoá câm điếc. Thất vọng tôi đành đứng lại nhìn theo cái bóng quái dị biến mất ở chỗ ngoặt con đường rừng. Tôi còn tìm đến gặp lão Rừng hai ba lần nữa nhưng đều uổng công vô ích chẳng moi được ở lão một lời. Ngoại trừ trong một cơn cáu giận khi tôi cố ý nhắc đến ông lão rừng trúc thì lão Rừng buột miệng rủa sao lão hoạ lang ấy sống dai không chịu chết đi nhỉ. Trong óc tôi chợt loé lên ý nghĩ phải chăng cuộc đời hai ông gìa quái dị này có gì liên quan đến nhau.
          Lão Rừng gọi ông lão rừng trúc là hoạ lang thế có nghĩa ông lão đã từng làm nghề vẽ. Tôi đem điều nghi ngờ ấy nhờ mẹ tôi giải đáp. Mẹ tôi bảo ngày còn bé mẹ đã nghe nói ông ta có làm nghề vẽ truyền thần nhưng cả đời mẹ chưa mục sở thị ông ta vẽ bao giờ chỉ thấy hình như ông ta lúc nào cũng mang theo một bình rượu ở sau lưng.
          Một buổi chiều thu se lạnh tôi thủ trong túi chai rượu nhỏ hiệu ông Tây chống gậy do một anh bạn đi nước ngoài về tặng (ngày đó thứ rượu này rất hiếm) đến gõ cửa ông già rừng trúc.
          - Chào cụ! Tôi cúi gập người lễ phép chào khi cụ mở cửa mời tôi vào.          Đây là lần đầu tiên tôi giáp mặt với ông lão. Chao ơi! Ông lão râu tóc bạc như cước da đỏ căng nom y hệt một vị đại tiên mà ngày nhỏ tôi đã xem trong những tập truyện tranh của Tầu. Ông lão nheo mắt nhìn tôi nhoẻn cười (tôi nhìn thấy ngay bộ răng trắng còn chắc như hàm răng thanh niên - và điều ấy làm cho tôi thấy rờn rợn). Ông nói:
          - Cậu đến tìm tôi để moi chuyện giật gân phải không? Mấy anh gọi là sưu tầm ở những ty sở nào đó tận trên tỉnh cũng đã mò mẫm về đây. Nhưng đều về tay không cả đấy. 
          Tôi đáp là tôi vì kính trọng bậc cao niên của làng là kẻ hậu sinh xa quê đã lâu chỉ đến thăm hầu rượu ông lão.
          - Có đem theo rượu chứ? Ông già rừng trúc cười lộ rõ vẻ hồn nhiên của trẻ thơ. 
          Tôi hớn hở lôi chai rượu ngoại ra khoe. Nhưng ông lão đã làm tôi tiu ngỉu. Ông bảo rằng ông không uống thứ nước mầu như mầu nước mắm ấy ông chỉ uống một thứ rượu gọi là rượu Đan Hà đựng trong bình làm bằng vỏ trái bầu khô.
          Nhắc đến rượu đôi mắt ông già rừng trúc sáng rực lên như bếp vừa bỏ thêm củi. Ông kể rượu Đan Hà cũng có nhiều loại nhưng đứng hàng đầu là rượu cụ Chiều ở xứ gò Sồi. Xứ gò Sồi là một dẫy đồi đất đá ong trên đó mọc độc một loại sồi dưới chân một quả đồi có một chiếc giếng sâu nhìn không thấy đáy. Giếng ấy do tổ mười mấy đời giòng họ cụ Chiều đào không bao giờ cạn. Tương truyền giòng họ cụ Chiều đào được giếng đó là do có thần linh giúp đỡ.  (Nhưng cứ theo mẹ tôi kể thì việc đào được cái giếng ấy là nhờ cụ tổ bà họ nhà ông Chiều chuyện đó xin để vào một dịp khác). Rượu cụ Chiều nấu không chỉ thơm ngon mà còn có sức cải lão hoàn đồng. Được như thế là do rượu ấy được cụ Chiều lấy nước giếng gò Sồi mà nấu. Ông lão rừng trúc chỉ uống thứ rượu đó.  Phải chính thứ rượu đó.
          Nhưng bấy giờ người ta đang thực hiện chính sách tiết kiệm cấm ngặt nấu rượu. Thành thử hàng tháng nay rồi ông lão rừng trúc không được một giọt. Ông lão nói với tôi cụ Chiều có cả một kho rượu dự trữ nếu ông tới chắc cụ không từ chối. Nhưng chết nỗi ông lão đã tự thề với mình rằng không bao giờ bước ra khỏi làng. Vậy là đành chịu nhịn. Tôi hứa tôi sẽ đến Đan Hà năn nỉ cụ Chiều cho ông lão một bình rượu quí. Nhưng hai ba lần đạp xe đi Đan Hà lần nào tôi cũng về tay trắng. Nhưng tôi quyết không bỏ cuộc. Cụ  Chiều thấy tôi không ngại vất vả đi lại nhiều lần đã động lòng trắc ẩn. Cụ dẫn tôi xuống căn bếp chỉ cho tôi coi những thứ đồ nghề của cụ. Tôi sững người vì ngạc nhiên. Như vậy mà cũng gọi là đồ nghề ư? Một chiếc chõ gỗ một cái chậu thau đáy lõm một cái nồi đồng mấy ống tre có thể nối ghép vào nhau. Có thế thôi mà làm ra thứ rượu có một không hai của một vùng. Cụ Chiều thấy tôi ngạc nhiên liền nói rằng cả Đan Hà đều nấu rượu bằng thứ đồ nghề đơn giản như thế cũng đều lấy nước giếng nhà cụ cả nhưng mỗi nhà là một thứ rượu. Cụ cười bảo anh hiểu không nấu rượu là như vậy đấy. Cuối cùng cụ quyết định tặng tôi một bình. Cụ bảo tôi đợi rồi bước vào buồng khép cửa lại. Chờ mãi không thấy cụ ra tôi tò mò ngó vào căn buồng trống không. Chẳng lẽ cụ có phép độn thổ hoặc tàng hình. Tôi đang ngơ ngác thì cụ đã lù lù ở sau lưng chìa ra cho tôi bình rượu làm bằng vỏ trái bầu khô. Một mùi thơm tinh khiết chợt xông lên. Tôi một kẻ uống chạc rượu của thiên hạ không ít đã nếm đủ mùi vị của đời vậy mà vẫn bị cái mùi thơm tinh khiết ấy làm cho ngây ngất. Quả là mỹ tửu. Cái thứ Đan Hà mỹ tửu này được nấu được ủ ra sao với thứ đồ nghề đơn giản mà tôi vừa thấy?
          Tôi trở lại Hạ Đan cùng bình rượu đặc biệt với niềm hy vọng tràn trề.          Ông lão rừng trúc mời tôi vào một căn phòng ở phía sau nhà. Cửa sổ căn phòng mở ra phía núi Bụt. Rừng trúc xanh thấp thoáng mờ mờ sương khói gợi cảm giác lâng lâng thoát tục. Giữa phòng bầy một bộ bàn ghế trúc vách treo một bức tranh vẽ một lối đi nhỏ một khối đá trắng cong như một chiếc ghế tựa. Sau khối đá là mấy khóm trúc mượt mà. Sau nữa và xa hơn là những chóp núi chìm trong mây ngũ sắc. Những cảnh đó được vẽ trên nền vải mầu ngà ngả sang vàng nhạt. Nhìn bức tranh tôi đoán tác giả của nó hẳn là ông già núi trúc. Chủ nhân không phủ nhận cũng chẳng xác nhận. Ông mời tôi ngồi vào bàn bầy ra hai chiếc chén sứ nhỏ men xanh làm từ đời nào không rõ rồi nâng bình rượu Đan Hà nghiêng xuống. Nom ông rót rượu mà tôi phát thèm. Giòng rượu trong suốt chẩy từ miệng chiếc bình làm bằng vỏ trái bầu thanh thoát và cao sang làm sao. Tia nắng chiều từ đâu đó bất ngờ quét qua giòng rượu đang chẩy làm lấp lánh lên trong chốc lát bẩy sắc cầu vồng. Cầm chén rượu trên tay nâng lên ngang mày theo lối người xưa có cảm giác như đang nâng một thứ vưu vật do trời đất chưng cất lên. Không nỡ uống ngay cứ để đấy mà chầm chậm ngẫm nghĩ dùng sức tưởng tượng mà thưởng thức.
          Không khí của bữa rượu có gì linh thiêng khiến tôi bỗng trở nên rụt dè. Ông già rừng trúc nâng chén rượu như thế không biết bao lâu. Cánh mũi ông chợt hồng lên và phập phồng. Đôi mắt ông lim dim. Tôi không biết khi nhắm mắt lại ông nhìn thấy gì và nghĩ gì. Cái thế giới mà trí tưởng tượng của chúng ta hình dung ra không bao giờ trùng khớp với thế giới hiện thực. Tôi nhớ đến mục đích vì nó mà tôi đã tìm đến ông già rừng trúc. Ông gìa đặt chén rượu xuống từ từ mở mắt nhìn về phía núi xanh xa mờ khói phủ cất giọng trầm trầm: "Cuộc sống của con người quí lắm trước hết vì nó có hạn. Giống như bình rượu này. Vậy nên chớ có uống một hơi cạn. " Ngừng một lát ông già nói tiếp: "Nhưng chờ đợi cái gì? Chẳng ai biết. Hy vọng là sự an ủi của hiện tại. Cậu không đồng ý với lão già này? Chẳng sao. "Tôi nói :"Thưa cụ cháu đến gặp cụ là có chuyện muốn thưa. . . " Ông già rừng trúc cắt ngang lời tôi: "Thôi khỏi tôi đã biết sẽ đến cái ngày mà chúng tôi phải ra đi. Cậu chính là số mệnh của chúng tôi." Tôi sợ hãi khi nghe những lời của ông già. Và không hiểu gì hết raó.
          Ông già rừng trúc nâng chén rượu uống một hơi cạn. Rồi ông lại rót lại uống. Thấy tôi nhìn ông vẻ không hiểu ông cười buồn rầu nói: "Đó là bình rượu của tôi đúng không?" Tôi gật đầu thừa nhận. Ông già rừng trúc chậm rãi uống không nói thêm gì nữa. ở vùng rừng ngày ngắn đêm dài. Mặt trời vừa gác núi bóng đêm đã dâng lên. Chiếc bình làm bằng vỏ bầu dốc ngược tối om. Ông già rừng trúc lặng lẽ đứng dậy cuốn bức tranh mà tôi đã tả ở trên nói:
          - Cậu mang bức tranh này đến cho lão Rừng. Lão ấy sẽ kể cho cậu những điều mà cậu muốn biết. Cầm lấy và đi ngay đi.
          Tôi cầm bức tranh lòng đầy hồ nghi đến tìm lão Rừng. Nghe bảo có người đem bức tranh của ông lão rừng trúc tới lão già quái dị liền mở cửa cho vào. Bóng tối che phủ khiến tôi chỉ nhìn thấy lờ mờ những đồ vật trong phòng. Lão Rừng mở bức tranh nhìn qua rồi bật khóc hu hu. Một lão già đến không rõ tuổi tác mà khóc hu hu thì thật là lạ lùng. Tôi đứng như trời trồng không biết mình phải làm gì.  Bỗng lão Rừng quay sang tôi nói: "Cậu chính là số mệnh của chúng tôi. " Tôi suýt kêu lên vì lão Rừng vừa thốt ra đúng cái câu mà ông già rừng trúc đã nói. Rồi lão Rừng châm một bó đuốc từ từ đốt bức tranh. Tôi vội vã cản lại nhưng không kịp. Bức tranh đã cháy mất một góc. Tôi dập lửa đang bén bức tranh cũng dập  luôn bó đuốc. Lão Rừng ngồi thần người một lúc lâu rồi chầm chậm kể.
          Mùa xuân năm đó năm mà cậu còn ở tận đẩu tận đâu chưa có mặt trên đời này còn ta đã là một thầy tú giỏi giang. Làng mở hội "nõn nường" rước hai thứ "nõn"và "nường" cho chúng phối hợp với nhau để cầu trời đất gieo vãi mùa màng tốt tươi cho vạn vật sinh sôi nẩy nở. Trong hội người ta bầy bán những thứ con giống những loại búp bê và rất nhiều tranh vẽ.  Ta dạo qua những quầy tranh dửng dưng trước những thứ rất mầu mè nhưng xấu đến ma chê quỷ hờn. Đến trước quầy tranh của một hoạ lang cũng trẻ như ta từ đâu tới không rõ ta bắt gặp một bức tranh mà mới nhìn đã thấy mê mẩn tâm thần. Đó là bức tranh bây giờ cậu đang giữ trong tay.  Chỉ có điều khác là nó chưa bị cháy một góc. Và cái quan trọng hơn cả là trên bức tranh còn có hình một cô gái đẹp như tiên sa. Ta ngắm từ sáng đến trưa không tài nào cất bước đi nổi. Gã hoạ lang hỏi ta cần gì? Ta khen ngợi tài vẽ của gã đồng thời bầy tỏ một ước nguyện ngông cuồng rằng nếu thiếu nữ trong tranh có thể hiện ra làm người thì ta nhất quyết cưới nàng làm vợ.  Gã hoạ lang nhìn ta từ đầu đến chân kỹ càng như người làng Hạ Đan mình vẫn xem khoáy của con trâu. Gã nói: "Chỉ cần thầy tú mỗi đêm cứ đúng giờ tý gọi tên nàng ba lần liên tục trong 99 đêm. Khi nàng hiện ra vào đêm thứ 99 thì thầy phải cho nàng uống một chén rượu được cất từ tro của 99 chiếc khăn tơ của 99 người con gái đồng trinh. Nàng sẽ hiện ra làm người. "
         Ta nói ta đủ sức làm điều đó và hỏi giá bức tranh. Hoạ lang nói bức tranh đó vô giá vì thế xin tặng mà không lấy tiền. Gã cuốn bức tranh trao cho ta rồi dặn đi dặn lại tên nàng là Thảo Sa. Ta về mặc những lời dèm pha rằng ta bị điên mặc cả sự ngăn cấm của cha mẹ làm đúng những điều mà hoạ lang đã dặn.  Này cậu 99 đêm trong một đời người không phải là dài nhưng đối với ta vào những ngày đó dường như là dài vô tận. Nhưng đã đi thì tất đến. Rồi cuối cùng đêm thứ 99 cũng tới. Đêm đó ta gần như kiệt sức. Bao giờ cũng thế cái phút tới đích là phút thử thách ghê gớm nhất. Sắp đến giờ tý thì ta gục xuống thiếp đi. Nhưng ông trời nhân từ đã trợ giúp ta. Vào cái giây phút thiêng liêng ấy thì trời đột ngột đổ sấm và mưa. Sấm và mưa đã đánh thức ta dậy giúp ta tỉnh táo. Tràn ngập lo lắng nhưng cũng đầy hy vọng ta gọi ba lần: Thảo Sa!Thảo Sa!Thảo Sa! Cả căn phòng bỗng nhiên rực sáng cô gái từ trong tranh cựa quậy hiện dần lên. Tưởng mình đang nằm mộng. Nhưng không nàng cất tiếng oanh thỏ thẻ: Chàng ơi ! Ta vội ôm lấy nàng. Một mùi thơm tinh khiết toả lan từ cơ thể mềm mại ấm áp. Nỗi sung sướng làm ta say sưa đến mức chỉ cần chậm một giây là tất cả lại trở thành công cốc: không cho nàng uống chén rượu được cất từ tro của 99 chiếc khăn tơ của 99 cô gái đồng trinh.
          Ta ngỏ lời xin cưới nàng làm vợ. Nàng e thẹn nhận lời. Chúng ta sống với nhau lúc nào cũng như hoa vừa nở như lửa vừa nhen. Và nàng sinh cho ta một đứa con trai kháu khỉnh. Chuyện một người lấy vợ tranh dù là chuyện hy hữu lúc đầu mọi người thấy lạ sau cũng quen. Thấm thoắt đứa con của chúng ta tròn một tuổi. Ta quyết định mở tiệc lớn để mừng. Ngày đó ta hãnh diện vô cùng.  Khách khứa ăn uống tấp nập từ sáng đến chiều. Cuối buổi tiệc xuất hiện một người khách quen nhưng từ mấy năm rồi không gặp. Sau khi nghe ta kể câu chuyện về mối tình truyền kì của mình người khách trợn mắt nói: "Đó là tai hoạ.  Đứa bé chính là yêu quái. " Người khách nói xong rút ra từ sau lưng một thanh đoản kiếm nói rằng đó là thanh bảo kiếm trừ yêu.  Người khách trao cho ta thanh đoản kiếm rồi bỏ đi ngay. Ta cầm thanh đoản kiếm trên tay đi vào nhà trong nơi vợ và con đang chờ mà vô cùng phân vân. Vợ ta nhìn thấy thanh đoản kiếm thì nước mắt đầm đìa. Ta gạn hỏi mãi nàng mới nói. Nàng bảo  nàng là tiên núi nhân ngày hội của dân làng Hạ Đan đẫ hiện thân thành người thôn nữ hoà vào giòng người dạo chơi. Nào ngờ hoạ lang nhìn thấy chép vào tranh. Vì thấy ta tỏ rõ tấm lòng thành nàng cảm động tình nguyện làm vợ ta. Nay ta nhận đoản kiếm của khách tỏ vẻ nghi ngờ mẹ con nàng không thể sống cùng ta được nữa. Dứt lời nàng bế con đi mất.
          Lão Rừng đột ngột dừng lời. Tôi từ biệt mang theo bức tranh ra về.  Đêm ấy tôi ngủ một giấc li bì đầy mộng mị. Hôm sau khi thức dậy thì mặt trời đã lên khỏi núi Bụt cả con sào nứa. Mẹ tôi bảo: "Con ngủ say như chết. Lúc gà gáy thì đồng loạt cả hai ngôi nhà của ông già rừng trúc và lão Rừng cùng bốc cháy. Dân làng đổ xô đi cứu hoả nhưng không sao cứu được. Chẳng ai thấy tăm hơi hai ông già ở đâu. "
           Tôi vội mặc quần áo chạy đến rừng trúc và nơi lão Rừng cư ngụ thì chẳng thấy còn dấu vết gì nữa. Ngay cả tro than cũng bị gió cuốn đi sạch.
          Tại sao lại có cái kết cục như thế này? Tại sao ông già rừng trúc và lão Rừng lại cùng nói rằng tôi chính là số mệnh của họ? Những hành động quái dị của hai con người quái dị như chỉ tồn tại ở trong chuyện cổ tích kia nói lên điều gì? Tôi nghĩ rất nhiều nhưng tôi không muốn suy đoán bừa. Lại có lúc tôi nghĩ có lẽ tất cả những điều tôi vừa kể chỉ diễn ra trong giấc mơ.  Nhưng cái bức tranh cháy mất một góc mà mẹ tôi đang giữ hộ tôi ở quê chẳng lẽ cũng là mơ ?
                                                                                           Hà Nội xuân con Hổ.
                                                                                                     H. P. P