B I Ể N C Ả

B i ể n  c ả                                             
                                                              Truyện vừa của Hà Phạm Phú
Tin các báo:Con tàu nghiên cứu biển mang tên NB01 trên đường đi đến vùng biển X. thì gặp nạn. Sóng vô tuyến bị nhiễu kéo dài trong nhiều phút trước khi liên lạc bị mất hoàn toàn. Các trung tâm cứu hộ gần vùng biển X không nhận được tín hiệu cấp cứu. Hiện công tác tìm kiếm đang được tiến hành.
Tin thêm về tàu NB01:Theo một số nhà khoa học ở trên tàu được cứu thoát kể lại con tàu đang trên đường đến vùng biển X. thì đột ngột vấp phải một cột nước khổng lồ màu đen. Bầu trời tối sầm lại con tàu bị bẻ gẫy làm đôi chìm xuống đáy biển trong chốc lát. Căn cứ vào các bức ảnh chụp từ vệ tinh các ghi nhận của trạm theo dõi động đất thì trong thời gian con tàu NB01 gặp nạn vùng biển X. hoàn toàn yên bình. Dự đoán có thể do tàu đã đi vào vùng biển có từ trường đặc biệt mà đến nay quy luật tác động của nó chưa ai biết.

 Phần I- VƯỢNG 

Đó là vào mùa hè những năm cuối cùng của thế kỉ 20 cũng kết thúc một thiên niên kỉ đầy biến động và có rất nhiều chuyện lạ lùng như câu chuyện con tầu nghiên cứu biển NB01 bị mất tích. Câu chuyện lạ lùng ấy lúc đầu chưa làm cho nhiều người quan tâm kể cả những người sinh ra ở biển và sống chết với biển. Nhưng câu chuyện lạ lùng ấy gợi lại kí ức và kích thích trí tưởng tượng của một chàng trai tên Vượng nhân vật sắp xuất hiện trong truyện dưới đây.


Vượng là chàng trai có khuôn mặt gân guốc khắc khổ từng trải. Đôi mắt to và sáng chứng tỏ chàng là một người có nghị lực dám mạo hiểm. Chàng đứng lẫn vào đám hành khách ngóng về đất liền nhưng khác với vẻ mặt háo hức của mọi người vẻ mặt của chàng trai lạnh và kín đáo. Con tầu viễn dương sau chặng đường dài hướng về  bến Hồng Gai. 
 
Và cuối cùng tàu thuỷ cập bến Hồng Gai. Vượng để mặc cho dòng người xô đẩy cuốn anh đi. Vách đá dựng đứng những dãy phố hẹp cheo leo sườn núi những chiếc xe goòng và cảng than. Đó là thành phố quê anh. Cuộc đời lãng du thiên hạ mỗi khi nghe nói quê anh ở Hồng Gai Cẩm Phả ai nấy đều nghiêng mình tỏ ra kính trọng.Nhưng anh không phải thợ đào than. Anh là dân chài gốc sống nhờ biển. Vượng thả bộ dọc theo phố mỏi chân mới tính chuyện kiếm một anh chàng xe ôm.
Xế trưa. Con đường về cái làng chài nhỏ bé của anh sau hai năm xa cách đã được sửa sang phẳng phiu nằm thườn dưới nắng gắt đầy bụi than và dài hun hút.
Tay lái xe ôm có vẻ lắm miệng vừa gặp đã lem lém:
- Nom anh như mới đi xa về. Anh về đâu?
- Về xóm Cù Lao biết hả chạy lẹ lên.
Tay lái xe ôm tào lao đủ thứ nhưng Vượng để lọt tai này sang tai khác.
Anh mong chóng về  đến nhà.
Vượng xuống xe ở đầu xóm cởi giầy cầm tay đi tắt qua một dải rừng phi lao hẹp. Hai năm xa cách nay trở về làng dù chẳng có ai trông đợi mà sao Vượng thấy bồn thồn hồi hộp một cách xa lạ.
Trái tim của kẻ ít nhất có trên hai chục năm đi biển trải qua bao cơn sóng gió hiểm nghèo có lần sờ cả tay vào mặt lạnh buốt thần chết vậy mà khi đứng trước xóm nhỏ Cù Lao lại đập như trống làng. Đôi chân Vượng muốn khuỵu xuống.
Chao ơi xóm Cù Lao của mình mà.
Căn nhà của Vượng do cha mẹ để lại nằm ở cuối xóm nhìn ra vịnh luôn thấp thoáng những con tàu trắng nom chẳng lớn hơn túp lều chăn vịt là mấy đập vào mắt anh. Từ mái lá cũ kỹ bốc lên một ngọn khói nhỏ.
Hai năm xa anh phó mặc cho một bà già họ hàng xa trông coi ngỡ nó phải hoang phế lạnh lẽo run rẩy những chú rơi ăn đêm nào ngờ lại mang đến cho anh cảm giác bình yên ấm cúng.
Vượng đẩy cánh cổng được đan bằng những cành phi lao xộc xệch và yếu đuối thì nghe một giọng đàn bà mỏi mệt hỏi vọng ra.
-         Ai đấy?
Vượng cố ý không đáp. Giây lát sau cánh cửa cũ kĩ khẽ rít lên tiếng cót két mở rộng. Bà già bước ra ngoài miệng lẩm bẩm khách lạ nào lại đến nhà bà lúc này. Vượng cố kìm mình hỏi khẽ:
-         Bà có nhận ra con không?
Bà già ngỡ ngàng nhìn khuôn mặt rám nắng của chàng thanh niên vạm vỡ từ đâu đến như một cơn gió đang đứng như bức tượng trong cái sân đất chật hẹp nhưng sạch sẽ của bà một lúc sau mới kêu lên:
-         Trời! Anh Vượng....
Bà già không nói được tiếp nước mắt lã chã khuỵu xuống. Vượng vội đưa hai tay đỡ bà dìu bà ngồi xuống chiếc chõng tre bóng nhẫy có vài cái nan được thay mới:
-         Kìa sao bà lại khóc?
Bà già đưa tay quệt nước mắt mếu máo:
- Anh bảo bà là đi ba tháng. Vậy mà nửa năm một năm rồi hai năm không thư từ tin tức gì về. Nói dại có người bảo anh đã chết ở đâu rồi. Mừng quá anh còn sống mà về. 
Vượng cười sảng khoái:
- Dân Cù Lao mình đâu có dễ chết bà. Như cha con đấy lạc trên biển cả tháng trời nước ăn ruỗng cả da mà thần chết có làm gì được đâu!
Bà già cười móm mém đôi mắt mờ đục dường như sáng lên:
- Ờ bà biết chứ đàn ông xóm Cù Lao là như thế nào…
Vượng hiểu điều bà già vừa nói định trêu bà một câu nhưng lại thôi. Hai năm lênh đênh kiếm ăn khắp biển Nam biển Bắc ăn cơm thiên hạ cũng đã mòn răng dành dụm được tí vốn nhưng đi làm thuê thì giàu làm sao được chỉ là vắt mũi bỏ miệng. Anh vòng tay ôm bà già nhấc bổng bà lên nói:         
- Bà ơi bà chỉ còn bằng đứa trẻ mười mấy thôi   bà.
- Bà giờ chỉ còn da bọc xương thôi…Lạy trời anh về được đến nhà khoẻ mạnh là mừng rồi. Anh về mà xem bây giờ  ở ta ai cũng có thể làm ông chủ bà chủ được…  

Ở nhà được ít hôm bà già gọi Vượng lại bảo rằng anh đã về rồi bà có đứa cháu ngoại mới đẻ ở trên Thuỷ Nguyên nhắn bà lên trông nhà cửa giùm. Vượng muốn giữ bà lại không được đành để bà đi.
Bà già đi rồi còn một mình trong căn nhà nhỏ Vượng thấy mênh mông trống trải làm sao. Lòng tràn ngập một nỗi buồn vô cớ. Có tiếng cười con gái ở đâu đó vọng tới có lẽ từ đám học trò đưa nhau ra bãi phi lao hóng mát. Vượng bất giác giơ tay vớ lấy cái gương soi. Đuôi mắt đầy những nếp nhăn. Ba mươi tám tuổi rồi mà vẫn độc thân. Khi trẻ nghèo chẳng có tiền cưới vợ. Cuộc sống phiêu du nay đây mai đó chứng kiến mãi cái cảnh mặt trời lên từ biển và cũng lặn xuống biển khiến con người cứ hoang dã dần thô lỗ dần. Cuộc đời lênh đênh trên biển làm sao có được con gái đàn bà. Những đêm trằn trọc nghe gió biển thổi qua bầu trời nghe sóng xô đẩy mạn tầu thèm được nhìn thấy một mái tóc dài thèm được nghe một giọng dịu dàng thèm được ôm một thân thể nồng nàn thèm được… Có lúc cuồng lên như phát điên bùng lên như ngọn lửa nhưng rồi phải ghìm xuống dập đi.
Vượng ào ra giếng múc nước dội ào ào lên đầu thay quần áo nhét túi ít tiền lẻ đủng đỉnh đi ra quán rượu ở giữa xóm.
Cái quán ấy có từ rất lâu rồi ngày Vượng ra đi nó xộc xệch bẩn thỉu bán rượu và mấy thức nhắm rẻ tiền. Cái quán ấy bây giờ mở rộng gấp đôi gấp ba rèm che bàn ghế Xuân Hoà khang trang đáo để. Quầy hàng thì phải nói chẳng thua kém gì các quầy hàng trên thị trấn và thành phố thượng vàng hạ cám đủ hết.
Vượng bước vào quán với một chút tò mò. A ha! Thế mới gọi là đổi thay chứ. Còn sớm. Quán vắng khách. Chủ quán là một phụ nữ nom chạc tuổi ngoài ba mươi đang gằm mặt vào cuốn sách bìa xanh đỏ loè loẹt chiếc váy ngắn vén lên hớ hênh. Vượng đánh tiếng khiến bà chủ giật mình thả rơi cuốn sách xuống đất. Người đàn bà ngẩng lên lập tức nở một nụ cười:
-         Ối giời chú Vượng! Người hay là ma thế này?
Vượng cười:
- Hiểu rồi hiểu rồi. Thế mới biết người đời bạc bẽo toàn rủa người ta chết.
Người đàn bà giọng đong đưa:
- Thì người ta cứ đồn thế. Nhưng người chết mà sống lại thì đến thần linh cũng phải nể. Chú về kỳ này tìm lấy một con nó cơm nước cho tôi làm mối.
- Ai thèm lấy tôi.
Vượng không ưa chị ta lắm nên đáp không lấy mặn mà. Chồng chị ta hơn Vượng vài ba tuổi trước cũng làm nghề đánh cá sau bỏ quay ra đi buôn thu gom than cho các chủ lớn kiếm được tiền dựng cho vợ cái quán này. Kém tuổi Vượng nhưng chi ta xưng “chị ” cứ ngọt xớt. Vượng tìm một góc thoáng đãng để ngồi. Chủ quán đi vòng đứng sau lưng Vượng bộ ngực đồ sộ gần như đè xuống đầu anh.
- Chú uống bia chứ?
- Bia! Chị cho chai bia Hà Nội nhé.
Vừa lúc ấy thêm một người khách bước vào. Người này trông thấy Vượng thì nhảy bổ đến reo toáng lên:
- Anh Vượng! Anh nhớ em chứ?
- Sao lại không. Tuấn hả! Trông cậu bảnh trai ra phết rồi. Sống ra sao? Vẫn đi biển đều chứ?
Vượng kéo ghế ra hiệu cho Tuấn cùng ngồi. Bà chủ đem bia ra đích thân rót cho khách đưa mắt liếc Vượng một cái rồi trở về với cuốn sách có cái bìa xanh đỏ loè loẹt của mình. Tuấn cầm cốc bia chạm với Vượng keng một tiếng rồi nói:
- Em ấy à? Mất mấy tháng đi thu mua than cho đức ông của bà chủ đây. Sau nhà nước lập lại trật tự bỏ lại về với biển. Còn anh về hẳn hay rồi lại đi?
- Về hẳn.
- Thế thì tốt hợp tác xã giải tán rồi. Ai có tiền đều có thể mua thuyền sắm lưới sắm câu. Bây giờ mua bán tự do lái từ các thị trấn thành phố trong tỉnh ngoài tỉnh đổ xô về tranh mua tranh bán vui lắm!
- Cái đó mình có được nghe- Vượng đáp rồi quay qua chủ quán- Thêm một chai bia nữa nhé!
Chủ quán đem bia cho hai người rồi quay về quầy bật rađiô.
Đúng vào chương trình bản tin. Một giọng nữ đầy xúc động: “ Các báo hôm nay đưa tin thêm về vụ tàu nghiên cứu biển NB01 gặp nạn ở vùng biển X...”
Vượng giỏng tai nghe: “ … một cột nước khổng lồ màu đen...”.
Tuấn thấy nét mặt Vượng biến đổi lạ hẳn đi liền hỏi:
-         Chuyện gì vậy anh?
Vượng như không chú ý đến câu hỏi của Tuấn ậm ừ:
- À ờ... cột nước màu đen....vùng biển X.
- Tưởng chuyện gì- Tuấn cười xoà- Đài báo đưa tin cả mấy ngày nay rồi. Uống đi hôm nay mừng gặp mặt em đãi anh.
Vượng cười:
-         Chú nhiều tiền nhỉ. Nhưng hôm nay là của anh. Anh bao.
Hai người gọi thêm bia. Chạm cốc. Ngà ngà say. Mặt Vượng hơi tái đi. Anh nâng cốc bia lên lại đặt xuống:- Này Tuấn chú có muốn mạo hiểm một chuyến không?
- Làm gì? Buôn bán thì em xin hàng. Bị một vố về than. Cạch đến già.
- Tất nhiên là đi biển. Chúng mình sinh ra ở biển thì sống chết với biển.
- Thế thì được em theo anh.Vượng dốc cạn cốc bia đôi mắt sáng lên:
-         Chúng ta sẽ sắm môt chiếc thuyền câu đi câu cá vàng.
Tuấn cười không tin:
- Anh kể chuyện cổ tích đấy à?
- Không anh biết anh nói gì- Vượng đáp- Loại cá vàng này đắt hơn vàng. Anh nói cho chú nghe. Trên rừng có gì dưới biển có nấy. Anh chỉ nói một thứ chí ít chú cũng có nghe đó là trầm hương. Chú bảo sao có đắt ngang vàng không? Sản vật của rừng ta có thể nhìn thấy được có thể trông thấy hết. Sản vật của biển ở sâu dưới đáy nước tối om ta làm sao nhìn ra được nhìn ra hết? Nhờ trời run rủi anh biết có một loại cá vàng.
- Chuyện cá vàng em mới được đọc trong truyện cổ tích. Hoá ra là có cá vàng thật sao nhưng thế thì phải hiếm làm sao bắt được?
- Vậy mới mạo hiểm- Vượng tìm cách thuyết phục Tuấn-Anh đi biển hơn hai mươi năm gấp đôi gấp ba chú nhìn thấy biết được nhiều hơn chú. Chú có tin anh không?
Tuấn gật đầu quả quyết:
-         Tin!
Vượng trầm ngâm một lát rồi nói:
- Chú tin là tốt rồi. Nói thế chúng ta làm gì cũng không thể hấp tấp. Chú về suy nghĩ thêm đi với anh có thể sẽ thành công vang dội sẽ có tiền nhưng cũng có thể mất mạng. Cái tầu NB01 ấy bằng sắt mà còn bị bẻ gẫy đôi huống chi chúng ta ngoài trí thông minh ra thì xương thịt có khác gì xương thịt của loài sinh vật khác.
Tuấn ôm lấy Vượng giọng nhừa nhựa:
-         Em nói tin là tin. Chính con người anh làm cho em tin.
Vượng vẫn còn tỉnh táo:
- Linh tính mách bảo anh rằng chúng ta sẽ thành công. Nhưng cả anh và chú chỉ biết chèo thuyền đánh cá không biết tính toán càng không biết buôn bán không biết ngoại giao. Chú tìm cho anh một người có đủ điều kiện để làm những việc đó. Ngày mai ta gặp nhau ở đây vào giờ này. 

Ngày hôm sau đúng hẹn Tuấn đưa đến cho Vượng một thanh niên có vóc dáng mảnh mai má còn mướt lông tơ.
- Đây là em Luân- Tuấn nói- Em mới học xong lớp 12 bố mất sớm nhà nghèo không có tiền học tiếp tình nguyện đi theo anh em chúng ta. 
Vượng ngắm nhìn Luân. Cậu chàng có khuôn mặt trái xoan như con gái. Đôi mắt mở to mơ màng nom rất dễ ưa. Gia đình Luân có gì đó na ná với Vượng. Anh có cảm tình ngay với Luân đồng ý tiếp nhận. Họ gọi bia. Vượng bảo Luân rót đầy ba cốc. Không khí có vẻ trang nghiêm. Tuấn nhìn Vượng chờ đợi Vượng cầm một cốc bia đưa lên ngang mặt nghiêm trang nói:
- Từ nay ba chúng ta coi nhau như anh em. Chúng ta nguyện sẽ đồng tâm hợp lực làm ăn.
- Chúng em sẽ nhất định nghe lời anh- Tuấn và Luân cùng nói.
- Choeng! Choeng!
Ba người chạm cốc và nốc cạn.
-Bây giờ là việc góp vốn- Vượng nói và móc từ trong túi ra một túi tiền- Đây là một triệu đồng (mệnh giá tiền cuối những năm 1990 thế kỉ trước- Chú của tác giả) số tiền anh dành dụm trong hai năm. Các chú có gì góp làm vốn chung?
Tuấn nói:
-         Em có năm trăm ngàn.
Luân cúi đầu im lặng.
Vượng đưa mắt ngó Tuấn rồi nhìn qua Luân giọng vui vẻ:
- Không sao coi như em góp với các anh vốn kiến thức vốn hiểu biết của mình. Sau này chia tiền ta chia làm bốn. Anh một phần Tuấn một phần Luân một phần. Còn một phần để dành để mua sắm đồ câu sửa chữa thuyền và dùng cho những việc cần thiết khác. Được không?
- Được chúng em nghe anh.
Buổi tối hôm ấy trời đầy sao. Biển yên tĩnh mặt nước phẳng như gương.


Vào một buổi sớm mát mẻ người ta thấy một công trường nhỏ được dựng lên trên bãi biển xóm Cù Lao. Thợ cả là ông già mái tóc bạc phơ. Giúp việc cho họ là ba người mà bạn đọc đã biết. Họ chở ở đâu đó về một chiếc thuyền cũ nát chẳng khác gì chiếc máng lợn nham nhở.
Vượng nói với bác thợ già:
- Chúng cháu chỉ có đủ tiền để mua được chiếc thuyền như thế này. Còn lại hoàn toàn trông cậy vào tay nghề của bác bác hãy giúp chúng cháu.
Ông già cầm chiếc rìu bén sáng loé dưới ánh mặt trời vung cao nói:
- Các cậu có chí có gan. Lão đây rất phục. Lão sẽ không phụ lòng các cậu. Các cậu nên nhớ đây là chiếc thuyền cũ nát sẽ được sửa lại.
- Chúng cháu ghi nhớ!
Vượng đáp nhưng không hiểu hết ẩn ý sau câu nói của ông già.

Khoảng mười ngày sau chiếc thuyền cũ nát đã được thay hình đổi dạng từ một chiếc máng lợn nham nhở biến thành một con rồng có đôi mắt đỏ rực nhìn thấu đáy biển. Bọn Vượng Tuấn Luân vui mừng ra mặt. Vượng xúc động nói:
- Chúng cháu cảm ơn bác! Chúng cháu không bao giờ dám quên ơn bác.
Ông già cười tự nhiên nước mắt tuôn ra. Bọn Vượng ngạc nhiên không biết nói sao. Đưa bàn tay khô gân guốc lau những giọt lệ lăn dài trên má người thợ cả chậm rãi nói:
- Vạn vật sinh ra ở đời đều có cuộc sống riêng có số phận riêng. Con thuyền này được hồi sinh bây giờ giao vào tay các cậu. Các cậu hãy coi nó như người bạn của mình. Thế là ta mãn nguyện. 

Dây câu lưỡi câu đã mua sắm đủ.
Vượng chọn ngày để ra khơi.
Đêm trước khi đi biển ba người sửa lế tế thần cầu sự may mắn.
Tuấn và Luân ngủ lại nhà Vượng. Họ trải chiếu ở ngoài sân nằm nhìn trăng muộn. Bầu trời đầy sao sóng biển xô chạy từng đợt sáng lân tinh.
Cứ mỗi lần nhắm mắt Vượng lại thấy cột nước khổng lồ màu chì đổ ập xuống người anh. Cột nước màu chì ấy xuất hiện ở các bản tin của các tờ báo được lan truyền trên làn sóng điện khuấy động một miền xa thẳm trong ký ức anh. Ở vùng biển X...
 
Vượng vùng dậy đi ra phía bãi biển. Con thuyền của họ lặng lẽ nằm trên cát không ngủ. Đôi mắt rực lửa mở xa xăm. Ngày mai họ sẽ ra đi. Con thuyền này sẽ đưa họ tới nơi có loài cá nếu câu được bán giá đắt hơn vàng. Đó là cá vàng. Cá vàng sẽ đem cho họ hạnh phúc.
Có tiếng thở gấp phía sau lưng. Vượng quay lại. Hoá ra là Tuấn và Luân. Cả hai cũng không ngủ được. Trước chuyến đi khơi đầu tiên ai mà tránh khỏi hồi hộp.
Vượng quàng tay qua vai Tuấn và Luân vui vẻ nói:
- Các cậu có nhớ chuyện trong Tam Quốc chí không? Bộ ba Lưu Quan Trương kết nghĩa vườn đào làm nên sự nghiệp. Chúng ta khởi nghiệp cũng có ba anh em anh tin chúng ta sẽ thành công lớn.
Khuôn mặt thanh tú của Luân như được thoa một lớp phấn trắng ánh lên vẻ háo hức. Luân tin vào câu chuyện cổ tích mà Vượng dựng nên.
Vượng nhìn gương mặt trong sáng của Luân nghĩ cậu ta còn trẻ quá.
Tuấn nghe những điều Vượng nói thì mỉm cười nghĩ bụng sao anh ấy không lấy vợ nhỉ. Trên đời này thiếu gì đàn bà.
Vượng hỏi Tuấn sao không nói gì. Tuấn bảo anh nói rất hay chúng ta là bộ ba Lưu- Quan- Trương sống chết có nhau.
Vượng chợt nẩy thoáng một chút nghi ngờ. Anh không tin Tuấn nghĩ thế nhưng rồi lại quên ngay.
Khuya sâu rồi họ cùng quay về nhà. Sáng mai đi biển sớm.
                                                                                       Hoàn thành 1998
                                                                                       Sửa lại 5- 2008 

Phần II- CÁ VÀNG (sẽ đăng tiếp)