BIỂN CẢ

Phần III- VÙNG BIỂN X.

Một hôm Chủ tịch thị trấn mời ba anh em Vượng lên văn phòng. Người phụ trách văn phòng đưa bọn Vượng đến khách sạn quốc tế.
Ông ta bảo:
- Hôm nay ông chủ tịch đặc biệt tiếp riêng các anh.
Lần đầu bọn Vượng bước chân vào phòng tiệc sang trọng bày toàn những đồ đắt tiền thoạt nhìn hoa cả mắt. Mười lăm phút sau chủ tịch thị trấn đến. Có lẽ ông ta chỉ cỡ tuổi Vượng. Da sạm nắng khoẻ mạnh. Chắc là mới được đề bạt. Ông chủ tịch nở một nụ cười cởi mở. Ông ta nói ngay:
- Hôm nay tôi đãi ba anh các món làm từ chính Hoàng lân ngư do các anh đánh bắt. Tôi dám chắc các anh chưa từng nếm chúng.
- Dạ đúng thế. Cá đắt ngang vàng ai mà dám ăn- Luân láu lỉnh trả lời.
Ông chủ tịch mời mọi người vào bàn xì xụp ăn uống tào lao đủ thứ chuyện trên đời. Ông chủ tịch tợp một hớp rượu Chivát ủ đâu những 18 năm nói:
- Cái món khoái khẩu này cũng là món ông ăn các bà thích các cụ nói không ngoa ngư sinh tinh mà.
Ông chủ tịch nói xong cười phá lên.
- Tuyệt trần đời!- Tuấn và Luân cũng thốt lên.
Nhà hàng lịch sự mời ông chủ tịch và khách quí là ba chàng đánh cá sang phòng bên dùng tráng miệng. Tuấn ghé tai Vượng hỏi nhỏ:
- Chả lẽ tự nhiên tự lành ông chủ tịch lại mời anh em mình lên đánh chén một bữa ?
- Lát nữa khắc biết- Vượng đáp.
Chờ mọi người yên vị ông chủ tịch đứng dậy nói:
- Mấy hôm nay biển động các đồng chí không đi biển được. Nhờ thế tôi mới có dịp được  tiếp những công dân ưu tú nhất của mình. Có thể nói không ngoa các đồng chí là những ngư dân giỏi nhất thị trấn giỏi nhất huyện cũng có thể là nhất tỉnh. Tôi xin thông báo để các đồng chí vui mừng là chính các đồng chí đã đóng góp phần quan trọng nhất vào việc phát triển  ngành du lịch dịch vụ của địa phương. Giải quyết hàng trăm việc làm tăng thu nhập bình quân theo đầu người. Thay mặt Uỷ ban nhân dân tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí. Bây giờ tôi có một đề nghị. Kìa các đồng chí uống nước. Ý tôi muốn nói thế này. Thế mạnh của tỉnh ta là than nhưng thế mạnh huyện ta của thị trấn ta là biển. Từ thực tế của các đồng chí có thể rút ra kết luận thị trấn ta có thể đi lên nhanh chóng từ Hoàng lân ngư. Tôi đề nghị đồng chí Vượng cùng hai đồng chí Tuấn và Luân  giúp thị trấn mở một ngư trường khai thác Hoàng lân ngư. Chúng tôi sẽ đầu tư thuyền máy dụng cụ đánh bắt và công nhân. Chúng ta sẽ cung cấp Hoàng lân ngư cho cả tỉnh cả nước và cho xuất khẩu. Huyện chúng ta sẽ giàu có vào bậc nhất.
Vượng đưa mắt nhìn Tuấn và Luân. Hai người nhìn anh chờ đợi. Vượng đứng lên nói:
- Anh em chúng tôi cảm ơn ông chủ tịch về bữa tiệc rất ngon lành hôm nay. Về việc lập ngư trường tổ chức đánh bắt Hoàng lân ngư xin ông chủ tịch cho chúng tôi một ít thời gian để suy nghĩ.
Ông chủ tịch khẽ nhíu lông mày nhưng giọng vẫn hết sức ôn hoà:
- Các đồng chí cứ suy nghĩ. Tôi mong các đồng chí trả lời sớm.
Trên đường từ huyện trở về ba người lặng im chẳng ai nói với ai câu nào.
 Sau đợt biển động bọn Vượng nghỉ tiếp một chuyến đi trên biển nữa. Tay lái cá liền dở trò láu cá. Các chủ hàng thuê đầu gấu đến làm việc với y. Tên cầm đầu đám anh chị ném con dao chọc tiết lợn lên bàn dằn giọng:
- Tao sẽ xin mày tí tiết nếu lần nữa mày còn bán của giả.
Mặt cắt không còn hạt máu tay lái cá lắp bắp:
- Em xin chừa từ đây em xin chừa.
Ngay ngày hôm đó y phóng đến xóm Cù Lao tìm Vượng bắt chước bọn anh chị y giở giọng lưu manh:
- Các ông làm ăn thế đếch nào để lỡ hợp đồng hết cả. Mất không biết bao nhiêu là tiền. Xem thu xếp mai đi biển sớm.
Vượng chừng mắt nhìn hắn:
- Ai ký hợp đồng với mày! Người chứ có phải gỗ đá đâu trái gió giở trời ốm đau phải nghỉ chứ.
Tên lái cá chợt hiểu chẳng có hợp đồng kinh tế nào hết mà có hợp đồng thì cũng chẳng ăn thịt nổi đám ngư dân bất trị này. Y chạy qua nhà Luân. Mẹ cậu ta bảo cậu ta lên thị trấn đành thất thểu quay về người rũ như lá chuối gặp lửa. May gặp Luân ở dọc đường y ngọt ngào:
- Này chú khuyên sao để thằng anh dở hơi của chú đi biển. Không có Hoàng lân ngư thì anh chết còn chú cũng mất nóm hời.
Luân đáp:
- Em sẽ cố gắng. Em sẽ năn nỉ để anh Vượng đi khơi sớm.
Chập tối Luân kéo Tuấn đến nhà Vượng. Vượng mặc quần áo chỉnh tề chuẩn bị đi đâu đó. Vợ Vượng đang lúi húi kéo nước bên giếng. Tuấn nói to:
- Bà chị vất vả thế để tôi giúp một tay.
Tuấn bảo Luân vào nhà trước còn mình đi về phía giếng nước.
Vợ Vượng tên là Trinh nom mỏng mày hay hạt đôi môi lúc nào cũng ướt mọng. Trinh lườm Tuấn một cái rồi quay ngoắt đi.
- Thôi mà bà chị- Tuấn nói đưa tôi kéo nước cho.
- Đi đâu mất mặt nhà chú mấy hôm nay?
- Không đi biển thì lên phố chơi...
- Gớm nhỉ.
Vượng từ trong nhà gọi với ra:
- Để cô ấy làm vào ta bàn công việc Tuấn!
Tuấn trao lại chiếc cần kéo nước cho Trinh có ý khẽ chạm tay vào ngực cô nàng. Trinh khẽ rùng mình nhưng im lặng không nó gì. Vượng lại giục:
          - Nhanh lên Tuấn.
Tuấn bước vào nhà cất tiếng hỏi:
- Anh sắp đi đâu phải không ?
- Người quen ở Bãi Sú mời xuống uống rượu. Hai chú cùng đi với anh cho vui.
Ba người ngồi xuống bộ ghế giả cổ Vượng mới mua từ trên thành  phố. Luân cười nhìn Vượng:
- Ngồi ở bộ ghế này em thấy còn sang hơn ngồi ở phòng tiệc khách sạn.
Vượng rót nước mời mọi người:
- Nghỉ thế thôi ngày mai chúng ta đi biển nhé ?
Không ai phản đối vậy là xong. Vượng nhìn Tuấn và Luân:
- Bây giờ các chú đi với anh.
Tuấn ngập ngừng nhìn xuống đất nói:
- Mai đi biển sớm để em về kiểm tra lại thuyền với đồ nghề. Luân đi với anh là được rồi.
Vượng vui vẻ đồng ý ngồi sau chiếc xe Honda để Luân đèo xuống Bãi Sú.

Quãng mười giờ đêm. Căn phòng vợ chồng Vượng vẫn còn sáng đèn. Vợ Vượng thỉnh thoảng cười khanh khách. Có gì phởn trí thế không biết?
- Để anh đi kẻo hắn đi về thì khốn- một giọng đàn ông thì thào.
- Không. Khi nào nghe tiếng Honda thằng Luân ở đầu xóm đi vẫn kịp chán.

Cái thứ rượu Bãi Sú nhạt hơn nước lã vậy mà Vượng cũng ngà ngà say. Trên đường về đến đoạn rẽ Vượng bảo Luân:
- Em về nhà từ đây để anh đi bộ. Anh muốn thư gián một chút.
 
 Vượng về gần đến nhà thấy đèn vẫn còn sáng. Tiếng rađiô vọng ra. Vượng sinh nghi. Lạ nhỉ hôm nay Trinh lại nghe rađiô. Cửa ra vào đóng chặt.
Anh giơ tay đập cửa. Một lúc lâu mới nghe tiếng Trinh:
- Đợi một chút em mở cửa ngay đây.
- Sao lâu thế ? Vượng suốt ruột.
Cánh cửa mở. Một bóng đen từ trong nhà lao vụt ra xô Vượng ngã bổ chửng rồi biến mất sau rặng phi lao. Men rượu làm cho anh thấy hụt hơi. Đầu óc căng thẳng muốn vỡ tung. Vượng vào nhà đóng cửa lại. Trinh như hóa câm ngồi ở cuối giường.
Cố lấy giọng bình tĩnh Vượng hỏi:
- Đứa nào?
- …
- Tôi hỏi cô thằng nào vừa từ trong nhà này chạy ra?
Trinh vẫn như người câm khuôn mặt vô cảm. Điên tiết Vượng cho Trinh một cái bạt tai trời giáng. Trinh ngã gục xuống giường nhưng vẫn không hé răng chỉ thấy dòng nước mắt tuôn chảy. Vượng chồm lên như thú giữ đôi bàn tay xạm nắng cứng chắc như kìm siết lấy cổ Trinh giọng khản đặc:
- Đứa nào? Thằng nào?
Trinh ngẹt thở mắt trợn trừng nhìn Vượng. Anh đọc được ở trong đó có sự cam chịu nỗi chán chường và lòng căm thù. Vượng bỗng lỏng tay.
- Anh giết tôi thì cứ giết- Trinh thở dốc- Đừng hòng tôi nói người ấy là ai. Tôi sống để bụng chết mang theo. Tôi thù anh.
Vượng cảm thấy người rã rời toàn bộ sức lực lòng ghen tuông nỗi đau đớn vì sự phản bội tan biến đi đâu cả. Con người anh trống rỗng. Đêm đó Vượng trải chiếu nằm ở phòng khách. Gần sáng mới thiếp đi. Giấc ngủ ngắn gủi đầy mộng mị.

Chuyến đi biển ấy nom thấy Vượng xọp đi nhưng nhìn gương mặt anh lầm lì nên cả Tuấn và Luân đều không dám hỏi. Như thường lệ một tuần sau họ lại trở về. Lúc đó đã cuối chiều. Ba người đi hàng dọc. Dân chài xóm Cù Lao ngạc nhiên. Họ chỉ bắt được đúng một con Hoàng lân ngư.

Lại đi biển tiếp.
Khác với những lần trước lần này Vượng không để Tuấn và Luân nghỉ giữa chừng một ngày. Lí do tại sao Vượng không nói cả Tuấn và Luân đều không dám hỏi.
Sau một đêm lênh đênh trên biển. Buổi sáng hôm ấy thật lạ lùng. Bầu trời xanh ngắt cao lồng lộng như chưa hề có một gợn mây. Mặt biển phẳng lì thăm thẳm như tấm vải khổng lồ bị là phẳng. Không có gió.
Nhưng sau ngày hôm đó cả bầu trời và biển đều đổi sắc chuyển sang đỏ lừ. Thoạt tiên là một chấm đỏ nhỏ xíu như đầu kim ở phía chân trời. Cái chấm nhỏ ấy loang dần như vết dầu loang nhuộm đỏ cả trời và biển.
Im lặng không cả tiếng sóng.
Vắng bặt tiếng hải âu bầy chim biển vẫn thường bám theo thuyền. Sự im lặng rợn người.
Vượng cầm lái. Không có gió con thuyền của bọn Vượng trôi đi chậm chạp. Giữa bầu trời và biển đỏ rực con thuyền như sắp bị thiêu cháy. Gương mặt rám nắng hốc hác của Vượng khô khốc như được tạc từ đá. Có cảm giác như Vượng để mặc cho con thuyền trôi vô định.
Tuấn lo sợ hỏi:
- Anh Vượng làm sao thế?
Im lặng một lúc lâu Vượng mới lên tiếng không trả lời mà hỏi lại:
- Con cá vừa rồi bán được bao nhiêu? Sao chưa chia?
Luân vội đáp:
- Em bán giá gấp rưỡi lần trước. Tiền mang cả đây em chia ngay bây giờ.
- Chú chia thế nào?
- Vẫn theo mọi lần phải không anh?
- Không!- Vượng đáp rứt khoát- Chia làm bốn phần theo tỉ lệ góp vốn anh hai phần các chú mỗi người một phần.
Cả Tuấn và Luân đều lấy làm lạ. Nhưng nhìn khuôn mặt nhất là đôi mắt đỏ như tiết của Vượng không ai dám nói gì.

Luân kéo chiếc túi vải từ trong khoang lấy tiền chia làm bốn. Toàn tiền năm mươi ngàn mới cứng cạo râu được.
Số lẻ của mỗi phần là hai trăm năm mươi ngàn Luân gói phần của mình số lẻ bỏ ra. Sau đó đưa mắt nhìn Tuấn dò hỏi. Tuấn ra hiệu vẫn làm theo lệ cũ. Luân bỏ số lẻ phần của Tuấn lại gộp với số lẻ của mình đập vào tiền của Vượng. Luân lấy giấy dầu gói chặt phần tiền của mỗi người lại. Riêng phâng của Vượng không hiểu sao Luân lại chần chừ không chuyển ngay.
Tuấn nói khẽ nhưng cả Vượng cũng nghe thấy:
- Chuyển tiền cho anh Vượng đi!
Vượng cầm túi tiền tung tung trên tay như muốn lượng đo công sức mồ hôi của chính mình. Mọi lần mỗi khi nhận phần tiền của mình xong là Vượng cho vào túi không bao giờ đếm lại. Lần này Vượng làm cho cả Tuấn và Luân kinh ngạc. Anh mở gói tiền của mình và bắt đầu đếm từng tờ từng tờ một.

Con thuyền không được bẻ lái gần như đứng yên một chỗ.
Vượng cầm nắm tiền toàn những tờ năm mươi ngàn mới cứng trong tay huơ lên trời kêu to:
- Nhiều tiền quá! Nhiều tiền quá! Nhưng tiền để làm gì?
Dứt lời Vượng đứng thẳng dậy tung hê toàn bộ số tiền lên không trung.
Đột ngột từ đâu đó một cơn gió thổi đến cuốn những đồng tiền bay trắng cả mặt biển.
Cả Tuấn và Luân cùng thét lên:
- Anh Vượng anh làm gì thế?
Hai người cùng xoài người ra vồ vớt những đồng tiền năm mươi ngàn đang bay đang trôi trên mặt biển.
Nhưng Vượng đã giong buồm cho con thuyền vượt lên phía trước để lại sau lưng những đồng năm mươi ngàn lênh đênh như hàng trăm con thuyền nhỏ không lái.
 
Đã kề gần ngư trường nơi bọn Vượng từng giăng câu bắt không biết bao nhiêu Hoàng lân ngư. Cơn sốc tiền bạc đã lắng xuống. Bầu trời mặt biển chuyển từ màu đỏ tươi sang màu tía. Im lặng tưởng nghe rõ những tiếng động kỳ lạ đang vang lên từ đáy biển.
- Ta đi chuyến này đã được một trăm chuyến chưa nhỉ? - Vượng đột ngột hỏi.
- Tròn một trăm năm mươi chuyến anh ạ- Luân đáp chắc nịch.
- Một trăm năm mươi chuyến cơ à? Chúng ta đã bắt quá nhiều Hoàng lân ngư rồi. Biển sẽ nổi giận. Thần linh sẽ trừng phạt chúng ta.
- Biển làm sao hết được cá- Tuấn chen vào- Anh nói chuyện mê tín.
Vượng nghiêm giọng:
- Chú đừng có báng bổ thần linh. Rồi chú sẽ thấy. Hôm nay anh phải kể cho các chú nghe chuyện này rồi chúng ta sẽ kể cho ông chủ tịch của chúng ta nghe. Chuyện về những con cá vàng mà cái ông người châu Á nào đó gọi là Hoàng lân ngư ấy.
Tuấn và Luân bỏ dở những việc đang làm. Luân ngồi sát lại gần Vượng. Tuấn cố ý ngồi xa hơn. Vượng dường như đã quên có hai người đang ở bên giọng rì rầm như nói với chính mình. Vượng kể.

Anh theo cha đi biển từ năm mười bốn mười lăm tuổi. Thường lênh đênh trên mặt biển rong ruổi từ Bắc chí Nam có chuyến kéo dài ba bốn tháng trời đánh cá chở hàng lậu miễn là kiếm được tiền. Chuyện anh sắp kể dưới đây do cha anh nghe ông anh kể lại. Ông anh nghe cụ anh. Cụ anh nghe kỵ anh.... Trước nữa những ai kể thì anh không biết.
Các cụ nói rằng từ bao đời nay dân chài nước ta lan truyền một câu truyện như là huyền thoại. Ở tít biển Đông xa kia có một loại cá vẩy vàng quý giá. Ăn thịt cá ấy con người trẻ lại khoẻ lên bẩy tám mươi tuổi vẫn có thể sinh con tác dụng như một thứ thuốc trường sinh. Có lẽ vì thế mà Tần Thuỷ Hoàng ở Tàu tin rằng có thuốc trường sinh ở biển. Người Tàu đặt tên cá là Gia cát ngư con cá hạnh hạnh phúc. Đời các cụ cũng mới chỉ nghe được chứ chưa ai mục sở thị tận mắt nhìn thấy con cá hạnh phúc ấy là như thế nào.
Nghe nói loại cá này sống ở tầng nước sâu có những loại rong rêu và các sinh vật phù du đặc biệt. Ở đó thuyền mảng khó bén tới được chài lưới không thể thả tới. Ngày xưa vua nước Chiêm Thành theo gương Tần Thuỷ Hoàng sai cận thần đi biển tìm bắt cá vàng vị thuốc trường sinh để dâng lên vua nước Đại Việt. Nửa năm trời liền quăng chài bắt được cơ man nào là cá biển nhưng cá vàng thì không. Sau nhờ một người thợ cậu  chế ra một thứ lưỡi câu đặc biệt liều chết đi vào vùng biển dữ mới câu được một đôi.
Vùng biển dữ ấy thế nào? Chẳng ai biết. Nhưng có một chuyện như thế này.
Vào cái ngày sinh nhật lần thứ mười sáu của anh con thuyền chở hàng cho bọn buôn lậu nhổ neo rời hòn đảo xa lạ hướng về bờ biển nước mình. Anh và cha cùng với gần chục người làm thuê nữa ra sức chèo cố thoát nhanh khỏi vịnh đảo thật xa rồi mới kéo buồm tránh con mắt nhòm ngó của nhà chức trách địa phương. Chèo liên tục từ nửa đêm đến rạng sáng. Ai cũng cảm thấy sức lực mình cạn dần. Lúc ấy ở chân trời có một chấm đỏ nhỏ xíu đang lớn dần lên nhưng nào có ai để ý.
- Kéo buồm!
Tiếng cha anh oai nghiêm vang lên từ phía lái. Ông không là chủ thuyền nhưng lại là thuyền trưởng.  Tay nghề kinh nghiệm đi biển  của ông đặt ông vào vị trí đó. Hàng lậu chở trên thuyền là loại hàng gì những người trên tầu như bố anh như bọn anh chẳng ai biết vì đóng kín trong những thùng gỗ lớn. Nhưng nặng lắm chắc là làm bằng sắt thép.
Con thuyền chạy một ngày đêm bình yên. Nếu cứ được gió như thế thì chỉ hai ngày nữa là về đến bãi biển quê nhà.
Cha anh không những là một thuyền trưởng giỏi mà còn là một thợ câu cừ khôi. Những chuyến đi biển như thế này vào lúc nhàn tản là ông thả câu kiếm ít cá cải thiện. Chẳng rõ trời xui biển khiến làm sao ông thả hết tầm câu. Và khi kéo lên một người đàn ông vững vàng từng trải như ông mà suýt bị ngất xỉu.
- Trời ơi! Cá vàng!
Ông kêu lên rồi ngã vào tay anh.
Lúc đó do còn non trẻ anh đâu hiểu hết được cái sự nghiêm trọng sắp xẩy ra.
Anh đỡ ông ngồi xuống:
- Cá vàng thì sao hở bố?
Ông sợ hãi nói:
- Con thả ngay cá vàng xuống biển và cầu thần linh phù hộ đi.
Anh ngần ngừ chưa làm ngay phần vì chưa hiểu phần vì thấy con cá vàng lạ mắt đẹp một cách rực rỡ muốn giữ lại coi. Ông quát to:
- Làm đi nhanh lên!
Ngay sau đó anh nghe rõ tiếng ì ầm lạ lùng cuộn dâng từ đáy biển. Bầu trời đang sáng chớp mắt tối sầm lại. Một cột nước màu chì khổng lồ lặng lẽ tiến lại gần con thuyền.
Mọi người nhốn nháo. Nhiều tiếng kêu rú sợ hãi. Con tầu buồm vặn mình răng rắc.
Lúc trước cha anh tỏ ra sợ sệt bao nhiêu thì bây giờ lại tỏ ra bình tĩnh bấy nhiêu. Ông ôm anh vào lòng và cố nói để anh hiểu :
- Biển đã nổi giận thần linh sẽ phán xét. Nếu một mai con còn sống con hãy nhớ đừng bao giờ nghĩ cách câu bắt cá vàng.
Dứt lời ông choàng vào người anh chiếc ao phao của ông. Vừa lúc đó cột nước khổng lồ kia chụp xuống con tầu. Cảm giác duy nhất còn nhớ được của anh khi ấy là: Biển và trời trộn vào nhau đen đặc còn anh thì rơi mãi rơi mãi không ngừng.

Nhờ một sự may mắn nào đó cho đến tận bây giờ anh cũng không rõ anh được sóng đưa vào một hòn đảo nhỏ được cứu trở lại đất liền. Những người trên tàu ngoài anh chẳng còn ai sống sót.
Sau này mỗi lần nhớ lại chuyện trên anh cứ cố tìm hiểu xem tại sao từ đâu bố anh lại nhận ra cái hiểm hoạ khi câu được cá vàng hay do câu được cá vàng. Có lẽ từ chuyện vua nước Chiêm Thành hay do chuyện Tần Thuỷ Hoàng hay do cuộc đời năm mươi mấy năm lăn lộn trên biển đã dạy cho cha anh biết cái may ở kề cận ngay cái rủi cái sống ở kề cận bên cái chết. Và rằng có những vùng có những khu vực người ta không thể hoặc không nên vượt qua. Có lẽ là thế chăng?Anh cũng chẳng biết nữa.

Vượng đột ngột dừng lời. Cả bon Tuấn và Luân đều thần mặt lo lắng.
Vượng nghe rõ những điều ầm ì nặng trĩu nơi đáy biển. Những tiếng đó cách đây hơn hai chục năm anh đã từng nghe. Lời dặn của bố giờ đây lại văng vẳng bên tai. Nhưng anh lại không làm theo thời bố. Ngày đầu tiên sau hai năm đi xa trở về làng cái tin con tàu nghiên cứu biển gặp nạn và ý kiến của những nhà khoa học trên con tàu sống sót gợi lên cho anh ý nghĩ liều lĩnh đóng một con thuyền gỗ (người ta bảo từ trường chỉ tác động với sắt thép) đi câu cá vàng. Đời anh lận đận long đong không được hưởng sung sướng không có hạnh phúc vì nghèo khổ vì không có tiền. Đánh bắt được cá vàng có tiền anh sẽ có cuộc sống sung sướng sẽ có hạnh phúc. Anh đã nghĩ thế.
Bất chợt Luân kêu to:
- Bục thuyền !
Vượng chợt nhớ lại lời ông già thợ cả nói lúc giao chiếc thuyền vào tay các anh thét:
- Cởi áo nút lại tát nước ra.
Tiếng Luân thất thanh:
- Cứu với! Cứu với!
Con thuyền xoay như chong chóng. Những cột nước màu chì từ trên trời đổ ập xuống. Bầu trời và mặt biển trộn vào nhau đen thẫm mất hết ý niệm thời gian mất hết phương hướng. Có cảm giác đó là ngày tận thế.
Thế rồi mưa. Mưa xối xả. Mưa như chưa từng mưa như thế bao giờ.

Vượng tỉnh dậy cảm thấy lạnh run. Sóng đã đưa anh dạt lên một bãi cát của một hòn đảo nhỏ. Bãi cát thoai thoải dốc càng lên cao càng nhiều đá. Trong màn mưa trắng xoá Vượng nhận ra một dải cây xanh mờ: Đảo có cây có nghĩa là có sự sống có thể có người ở. Thu hết sức Vượng đứng dậy lảo đảo bước đi. Bất chợt anh nhận thấy một chấm đen di động ở phía bên trái bãi biển sát mép nước. Còn sống! Tuấn hay là Luân ?
Vượng vừa chạy vừa gào lớn:
- Tuấn ơi! Luân ơi!
Mưa quất túi bụi vào đầu mặt lưng Vượng. Anh cúi người hai tay vươn tới trước như muốn vạch rừng mưa xuyên qua rừng mưa mà đi.
Chấm đen di động lớn dần. Một con người!
- Trời ơi Tuấn ! Thằng Luân đâu?
Tuấn mệt mỏi lắc đầu tỏ ý không biết.
Vượng dìu Tuấn vượt hết bãi cát xuyên qua dải cây xanh gặp một bãi rộng phẳng phiu. Vào một lúc khác có lẽ Vượng đã reo lên xem đây như chốn bồng lai tiên cảnh. Còn bây giờ sau khi vừa thoát khỏi thần chết trong khi cả hai con người cùng bị cái đói cái rét hành hạ Vượng chỉ một mực cầu xin thần linh phù hộ tìm được một chỗ trú thân đủ vững chắc để có thể nương náu tìm cách trở về đất liền.

Mưa vẫn như rách trời.
Hai con người đi xiêu vẹo trong mưa hai sinh linh nhỏ nhoi trên một hòn đảo nhỏ xíu giữa biển khơi. Họ có thể bị vùi dập nhưng khao khát sống của họ mạnh mẽ khó có thể đo được. Qua bãi rộng hai người gặp một dải rừng thông không cao lắm nhưng chắc khoẻ.
Lờ mờ trong đó một mái lều.
- Đảo sống! Đảo có người!
Tiếng reo lên của Vượng làm cho Tuấn tỉnh táo lên. Hai người rảo bước đi nhanh về phía túp lều. Hình như mưa bắt đầu dịu đi. Túp lều hiện ra trước mắt. đó là một túp lều thấp nhưng khá rộng được dựng hoàn toàn bằng gỗ. Mái lều được lợp bằng những tấm ván thuyền sau đó được phủ thêm bằng những cành thông ken dày. Góc lều có một lu nước ngọt. Bếp đã được xếp bằng những viên đá được đẽo gọt như những viên gạch. Một mớ củi khô đã chẻ sẵn. Một thùng lương khô lưng lửng gạo một tải rau muống khô. Không thấy chủ nhân đâu. Túp lều như được dựng sẵn để chờ đón bọn Vượng và Tuấn.
Vượng dìu Tuấn vào lều mở gói vải nhựa bọc kỹ luôn dắt bên mình lôi ra chiếc bật lửa. Anh tìm kiếm quanh lều kiếm được chiếc nồi nhôm liền bắc bếp đun một nồi nước nóng. Hai người cởi quần áo vắt khô hong quanh bếp.
Vượng đứng dậy bảo Tuấn:
- Chú còn yếu cứ nghỉ. Anh đi một vòng xem có tìm thấy thằng Luân không?

Lâu lắm Vượng mới quay trở lại. Tuấn đã tỉnh táo hẳn vừa thấy Vường từ ngoài màn mưa dày đặc chui vào lều liền hỏi:
- Thế nào anh Vượng?
Vượng lắc đầu thay câu trả lời.
Màn đêm ập xuống. Mưa không còn dữ dội nhưng vẫn không ngớt. Tuấn tìm thấy trong thùng gạo một tờ giấy ghi những dòng sau đây:
“Tệ xá có để gạo rau cho quý khách lỡ độ đường dùng tạm ít bữa. Quý khách cứ coi tệ xá như nhà của mình. Quý khách hãy dành thời gian lưu lại ở tệ xá sau cơn hoạn nạn vào những việc hữu ích chẳng hạn như ngẫm sự đời. Chúc quý khách bình tâm. Xá chủ”.
Tuấn lẩm bẩm:
- Chúa đảo này thật chu đáo nhưng lời lẽ sâu xa khó hiểu quá. Chắc phải là một cụ già.
Vượng ngồi bó gối nhìn ngọn lửa đáp lửng lơ:
- Tiếc thay! Tiếc thay!
- Anh nói gì vậy?- Tuấn hỏi ngơ ngác không hiểu.
Vượng trầm ngâm:
- Tại sao con người ta khi cặp kề cái chết mới tỉnh ngộ ra mới biết rằng suốt cả quãng đời dài đã sống đâu có phải sống mà là đang mê đi lạc đường mà cứ tưởng là đi đúng. Tại sao anh lại lấy Trinh một cô gái trẻ đẹp chỉ bằng nửa tuổi anh? Cô ấy nhà nghèo bố bị xuất huyết não không có tiền chữa chạy. Cô ấy đồng ý lấy anh vì anh có tiền. Còn anh anh nghĩ anh có tiền thì làm cho cô ấy hạnh phúc và anh cũng hạnh phúc. Nhưng than ôi nhà cửa tiện nghi tiền bạc để làm gì khi cô ấy chẳng yêu anh. Anh nồng nhiệt thì cô ấy thờ ơ anh ham muốn thì cô ấy cam chịu. Người ta bảo cô ấy trẻ quá chưa biết lo nghĩ chưa biết chiều chuộng đợi khi có con mà xem! Nhưng cô ấy không muốn có con. Chi họ anh độc đinh. Cụ anh sinh được mỗi bố anh là con trai. Bố anh sinh được một mình anh. Cô ấy không muốn có con nghĩa là giòng họ anh tuyệt tự. Tiền bạc nhà cửa để cho ai để làm gì?
Tuấn im lặng mắt nhìn ngoài xa xăm. Vượng vẫn chìm trong dòng suy nghĩ nặng nề. Anh nhớ lại cái đêm cách đây không xa. Khi cánh cửa nhà anh đóng chặt bật mở ra thì một sự thật phũ phàng cũng phơi bầy ra. Vợ anh Trinh đã đưa trai về ngủ  ở trong nhà anh chính trên chiếc giường của anh. Anh là một người chồng bị cắm sừng một thằng đàn ông bất hạnh. Anh đã đánh cô đã bóp cổ anh bắt cô khai ra cái thằng trai ấy là thằng nào. Anh nói anh sẽ giết hắn anh sẽ băm vằm hắn ra từng mảnh. Nhưng Trinh thà chết thì thôi chứ không nói. Cô ấy yêu thằng trai ấy quá. Cô ấy không yêu anh. Tình yêu là như thế đấy. Sau cơn điên anh bỗng thấy khâm phục cô. Anh chỉ sợ rằng thằng trai ấy lợi dụng cô mà thôi.
Bất chợt Vượng quay sang hỏi Tuấn:
- Tuấn chú có hiểu không? Tiền bạc vũ lực không giành được tình yêu. Chuyện muôn thuở mà. Đài báo vẫn nói thế. Nhưng anh đâu có chịu tin. Bây giờ chắc Trinh đang sống với mẹ cô ấy. Sau trận đòn của anh cô ấy bỏ về nhà mẹ. Trinh ơi! Anh làm khổ em. Nếu sống được trở về anh sẽ làm lại từ đầu.
Tuấn ngồi im trơ như một pho tượng. Vượng vẫn nói:
- Bây giờ anh mới hiểu rằng anh đã yêu Trinh. Nhưng cả tâm hồn và thể xác cô ấy không còn thuộc về anh nữa. Anh sẽ làm gì nếu thoát khỏi hòn đảo này mà trở về?
 
Tuấn chợt khẽ rùng mình. Tuấn nhìn túp lều nhìn thùng lương khô chứa lưng lửng gạo khẽ hỏi:
          - Trở về anh sẽ làm gì?
Vượng đáp:
- Anh sẽ bảo với cô ấy rằng nhà cửa này là của em. Em yêu thương ai em hãy lấy người đó. Anh sẽ giải phóng cho em anh sẽ ra đi đến một góc trời nào đó chắc sẽ tìm được hạnh phúc.
- Trời ơi là trời!
Đột ngột Tuấn kêu to ôm đầu lao ta khỏi lều chạy thẳng vào cơn mưa xối xả.
Thoạt đầu Vượng không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tiếng kêu thất thanh của Tuấn bóng Tuấn lao vụt vào trong mưa đánh thức nỗi ngờ vực ngấm ngầm lâu nay trong lòng Vượng. Cái bóng đen lao vụt khỏi nhà anh đêm ấy cái hơi thở ấy cái mùi đàn ông ấy gợi lên cảm tưởng quen thuộc. Nhưng anh cố nghĩ chẳng thể là người trong nhà được. Bây giờ thì Vượng hiểu ra thằng ấy chính là Tuấn! Đồ đểu giả đồ khốn nạn! Vượng ngồi như mọc rễ.
Bỗng một tiếng kêu thất thanh vang lên ở phía bắc đảo nơi chồng chất những tảng đá lớn. Theo bản năng Vượng bật dậy lao ra ngoài. Chẳng khó khăn gì lắm Vượng tìm thấy Tuấn nằm gục nơi bãi đá đầu đầm đìa máu. Vượng xốc Tuấn lên bế về lều lấy nước xôi để nguội hoà muối sát trùng lau rửa vết thương cho Tuấn sau đó xé một miếng vải sạch băng bó lại.
Tuấn lên cơn sốt luôn miệng nói:
- Em có lỗi với anh chị! Em có lỗi với anh chị !
Vượng dấp một miếng vải ướt đắp lên trán Tuấn vỗ về:
- Chú nằm yên ngủ đi. Không nói chuyện đó nữa.
Tuấn nửa mơ nửa tỉnh:
- Sao anh không để cho em chết đi. Chết mới tạ được lỗi với anh.
- Chú nghĩ lầm rồi- Vượng nói- Cái quý giá nhất của con người là cuộc sống không có cái chết nào chuộc lại được lỗi lầm. Chỉ có sống sao cho xứng với cuộc sống mới chuộc được lỗi lầm mà thôi.
Dường như Tuấn nghe lời và ngủ thiếp đi.

Mưa liền bẩy ngày mới tạnh.
Buổi sáng hôm đó trời xanh trong mặt biển cũng xanh biếc. Chấp chới những cánh hải âu. Tuấn thức dậy húp được một bát cháo. Vượng đi vòng quanh đảo như những ngày vừa qua anh vẫn đi với hi vọng mơ hồ tìm thấy một dấu vết nào đó của Luân. Nhưng bặt không một chút dấu vết. Mặt biển mênh mông gợn sóng. Bãi cát của đảo sạch bong.
Đứng đây trên một một góc hòn đảo này Vượng không sao nhớ được con thuyền các anh gặp nạn nằm ở hướng nào. Dường như không có cơn sóng đen như ngày tận thế ập đến đối với người dân xóm Cù Lao chắc chắn chẳng ai biết được ba người bọn anh đã gặp nạn. Thời gian vẫn cứ trôi đi như nước sông trôi xuôi không biết có ai nhớ đến bọn anh. Người ta sẽ chết khi không có ai trên đời nhớ đến…

Quá trưa từ phía chân trời hiện lên một cánh buồm đỏ. Cánh buồm tiến về phía hòn đảo. Vận may đến rồi chăng?
Tuấn nói to:
- Có lẽ ông chúa đảo trở về anh Vượng ơi!
- Để chờ xem!- Vượng đáp.
Cánh buồm đỏ lớn dần. Một con thuyền xuất hiện Vượng và Tuấn lao ra bãi biển gào lên:
- Chúng tôi ở đây ! Cứu với chúng tôi ở đây.
Nhưng cánh buồm lớn lên rồi nhỏ dần. Sau đó lại một cánh buồm vàng hiện lên ở phía chân trời. Nhưng chỉ ít phút sau cánh buồm vàng lại biến mất. Từ đó đến cuối chiều chân trời ắng lặng.
Bọn Vượng trở lại lều không ai nói một lời nào. Vượng nổi lửa nấu cháo ánh lửa bập bùng rọi lên mái nhà còn chưa ám khói. Có lẽ ít người ghé vào đây. Còn người chủ hòn đảo này chắc sống ở một nơi nào đó dựng lên để cứu giúp những người bị nạn. Bất chợt Vượng ngẩng lên thấy những nét khắc sắc và sâu trên những tấm ván thuyền: “ Dù tới bước đường cùng cũng đừng tuyệt vọng”.
Tuấn nói:
- Thương thằng Luân quá. Nó còn mẹ già. Sao em lại không đi thay nó. Em chẳng còn ai thân thiết cả.
- Chú đừng nói thế thằng Luân mất tích không có nghĩa là thằng Luân đã chết.

NXH

gưỉ anh Phú

Em vừa email vào hộp thư gmail cho anh anh xem rồi tính thế nào nhé

Quảng Châu

gui anh Phu

Cong viec hom nay (t2 02/6/2008) tiến triển khá tốt vì có phiên dịch mới. Từ Bình cũng rất vui vì có cô phiên dịch này. KS lại hỏng Net nên phải ra quán gửi cho anh mấy dòng em không nhớ địa chỉ email của anh. Điện thoại lại chưa nạp tiền trời mưa suốt. Mọi việc bắt đầu tiến triển...