Tháng bẩy năm 1980

        Trước ngày nhà du hành vũ trụ Hàn Quốc một phụ nữ châu Á xinh đẹp bay vào vũ trụ thì nhà triệu phú người Mỹ tên là Ti-tô  đã bỏ ra 20 triệu đô la để mua một vé du lịch lên thăm trạm quĩ đạo Hoà Bình. Ông ta là người khách đầu tiên trong lịch sử du lịch thế giới đi du lịch vào vũ trụ để ngắm nhìn vẻ đẹp kì bí của trái đất từ độ cao trên 300 ki-lô-mét. Theo các nhà nghiên cứu kinh tế vũ trụ 20 triệu đô la tiền vé mà ông Ti-tô bỏ ra không đủ để trang trải cho chuyến bay này. Thế nhưng những người tổ chức vẫn sẵn sàng tiến hành có lẽ là họ hy vọng thu lợi vào các chuyến sau chăng?
      Tôi không rõ người Hàn đã đổ ra bao nhiêu tiền để đưa nhà du hành vũ trụ của mình lên quĩ đạo với danh nghĩa hợp tác nghiên cứu vũ trụ.
      Nhân sự kiện người phụ nữ châu Á bay vào vũ trụ này tôi lại nhớ đến một sự kiện cách đây đã ngót 30 năm: Phạm Tuân người Việt Nam
đầu tiên- đã bay lên vũ trụ. Ngày ấy không ít người cho rằng Việt Nam tham gia Chương trình nghiên cứu vũ trụ mà trọng tâm là chuyến bay quốc tế Việt- Xô với những chi phí tốn kém là không thiết thực là chủ yếu vì mục đích tuyên truyền.  Có thể ngày hôm nay cũng vẫn còn ai đó nhìn nhận sự kiện ấy là không có gì quan trọng. Thế nhưng trong cuộc đời có những cái tưởng như không liên quan gì đến chúng ta hoá ra lại có những mối quan hệ hết sức mật thiết. Có một sự thật hiển nhiên hai mươi tám năm sau sự kiện ấy khoa học kĩ thuật đặc biệt là khoa học kĩ thuật vũ trụ đã có những bước tiến vượt bực và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực đời sống.
      Do chuyển công tác khác tôi không có điều kiện tiếp tục theo dõi vì thế chẳng rõ số phận của cái chương trình nghiên cứu khoa học do Viện khoa học Việt Nam chủ trì thời ấy đã tiến triển ra sao chỉ duy hai phi công Việt Nam tham gia vào chương trình ấy thì một người đã chết còn một người thì lên cấp tướng. Thời gian qua đi nhiều sự kiện đã bị phủ bụi mờ. Cuộc sống mới có nhiều cái quan tâm mới. Tuy nhiên đối với riêng tôi với tư cách nhà báo tham gia vào sự kiện ấy nhiều kỉ niệm vẫn còn tươi rói nóng hổi sức gợi mở.
      Giữa mùa hè năm 1980 sau lễ kỉ niệm tưng bừng năm năm đất nước Việt Nam thống nhất tại Ma-xcơ-va thủ đô Liên Xô ngày ấy lại sắp diễn ra cùng một lúc hai sự kiện  quan trọng có liên quan đến Việt Nam: Đại hội thể thao thế giới (đại hội Ô-lim-pic) có đoàn vận động viên Việt Nam thống nhất tham gia và Chuyến bay quốc tế do các phi công vũ trụ Việt- Xô thực hiện. Thế giới những năm 1980 đang trong cuộc chiến tranh lạnh sự đối đầu chính trị xẩy ra trong tất cả các lĩnh vực kể cả thể thao. (Ngày nay chiến tranh lạnh đã kết thúc nhưng sự đối đầu chính trị vẫn xẩy ra như cơm bữa). Ô-lim-píc Ma-xcơ-va bị nước Mỹ và một số đồng minh tẩy chay. Chúng tôi ra đi được xem như những chiến sĩ sẽ phối hợp tác chiến với bạn trên mặt trận tuyên truyền. (Vì thế mà người ta nghĩ rằng việc Việt Nam
tham gia vào Chương trình nghiên cứu vũ trụ chỉ vì mục đích tuyên truyền?)
      Tôi nhớ một chiều cuối tháng Sáu chiếc IL- 62 của Hãng hàng không Liên Xô cất cánh rời sân bay Nội Bài xuyên mây lên mãi để lại ở phía dưới những làng mạc những cánh đồng giòng sông và biển cả cuối cùng lấy được độ cao bay về hướng tây. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được đi máy bay. Nhìn biển mây trắng vô tận chìm sâu dưới thân máy bay như bất động tôi có cảm giác chiếc máy bay chứa trong lòng nó hàng trăm hành khách chỉ là một hạt bụi giữa vũ trụ bao la. Vầng thái dương đang lặn luôn treo ở trước mặt cuộc bay của chúng tôi giống như một cuộc bay đuổi bắt mặt trời.
     
Rồi sự choáng ngợp bởi niềm vui xuất ngoại bởi không gian bao la cũng lắng lại tôi bắt đầu quan sát các bạn đồng hành. Ngồi bên cạnh tôi là phóng viên nhiếp ảnh của TTX Việt Nam anh Đinh Quang Thành một người tôi đã có hân hạnh quen biết trước. Phía trên tôi là thượng tá Phạm Phú Bằng nhỏ nhắn và lúc nào cũng tỏ ra trầm tĩnh. Xét về thâm niên nghề nghiệp cũng như cấp chức đối với ông tôi- một thượng uý phóng viên vừa mới vào nghề- rõ ràng chỉ là một người trò nhỏ.
     
Chuyến bay của chúng tôi có thể xem là một chuyến bay đặc biệt chở toàn các nhà báo- báo viết báo nói và báo hình- trong đó có nhiều nhà báo nổi tiếng như Đào Tùng Trần Kiên Thép Mới...Có cả cô phát thanh viên xinh đẹp xuất thân nghệ sĩ múa Kim Tiến. Đó là một đội quân nhiều binh chủng đi làm một nhiệm vụ đặc biệt: chuẩn bị tường thuật chuyến bay vũ trụ Việt- Xô.
     
Một anh phóng viên như tôi chưa hề từng trải tại sao lại được cử đi viết về một sự kiện lớn có ý nghĩa lịch sử? Đó là câu hỏi được đặt ra đối với Ban biên tập Báo QĐND. (Đầu những năm 1980 các phóng viên được cử đi nước ngoài không dễ dàng như bây giờ và không ít người còn coi đó như một thứ quyền lợi được chia chác hưởng thụ). Nghe kể khi đó một nhà báo lớn tuổi rất từng trải đồng nghiệp của tôi đã gặp ông Tổng biên tập- đại tá Trần Công Mân yêu cầu được thế chân tôi. Lẽ dĩ nhiên người ta phải cân nhắc so sánh. Dù thế cuối cùng tôi cũng lọt vào danh sách hai người: Phạm Phú Bằng và Hà Phạm Phú.  Nhân tiện xin kể một chuyện liên quan đến cái tên của tôi. Hẳn do khó phát âm vì có hai "ph" đứng kề nhau thành thử nhiều người dứt khoát đọc tôi là Hà Văn hoặc Hà Trọng Phú.  Lại còn có người nhầm tôi là ... Phạm Phú Bằng như chính ông kể với tôi. Cũng là dễ hiểu một phần do tên của chúng tôi có hai từ trùng nhau còn một phần nữa là vì đâu tôi không rõ. Tôi không rõ lí lẽ của Ban biên tập như thế nào khi chọn tôi? Nhưng tôi đã được chuẩn bị trước cho sự kiện này theo như tôi hiểu.
     
Tôi rời trường Đại học kĩ thuật quân sự về nhận công tác ở báo QĐND vào đầu năm 1978 phụ trách biên tập trang Khoa học kĩ thuật quân sự. Nhân đến Viện khoa học Việt Nam đặt bài viết về Viện sĩ Ka-pít-sa ( nhà vật lí Xô-viết nổi tiếng) tôi được làm quen với Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Một buổi sáng Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu cho xe qua Toà soạn đón tôi nói mời tôi tham dự một cuộc Hội đàm quan trọng. Tôi theo ông đến Viện khoa học Việt Nam
bước vào một phòng họp rộng thênh thang. Ở đấy ông Hiệu đã thảo luận những chi tiết của chương trình hợp tác nghiên cứu vũ trụ với hai nhà bác học Liên Xô trước khi báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đây là lần đầu tiên như ông Nguyễn Văn Hiệu cho tôi biết có một nhà báo được chứng kiến hai phía Việt Nam- Liên Xô chính thức bàn việc hợp tác nghiên cứu vũ trụ. Trở về toà soạn tôi gặp Tổng biên tập báo cáo những gì mình được biết. Đại tá Trần Công Mân nghe tôi chăm chú nhưng không nói gì. ít lâu sau chương trình hợp tác nghiên cứu vũ trụ mà trọng tâm là chuyến bay quốc tế trên con tầu Liên hợp được thông báo và mọi việc chuẩn bị cũng được công khai các phi công vũ trụ Việt Nam đã được tuyển chọn: trung tá Phạm Tuân và thiếu tá Bùi Thanh Liêm. Tôi được Toà soạn cử về xã Quốc Tuấn Kiến Xương Thái Bình quê hương của phi công vũ trụ Phạm Tuân. Tôi đã ở lại ít ngày trong ngôi nhà có phần cổ kính của người phi công anh hùng nghe hai cụ thân sinh Phạm Tuân kể về tuổi thơ của anh. Lúc tôi trở về Hà Nội cô em gái Phạm Tuân đã rang tặng tôi một lọ to mắm ruốc. Tôi thấy yêu những con người của vùng quê nhiều ruộng nhiều sông kẽo kẹt những chiếc vó và thấp thoáng những cánh buồm nâu sáng. Tôi cũng đã đến thăm ngôi nhà bà mẹ Phạm Thanh Liêm ở trong khu tập thể của trường Đại học tổng hợp Hà Nội nghe kể về những năm tháng bà phiêu du theo cha trên các thị xã Vĩnh Yên Phúc Yên. 
     
Sau khi danh sách đoàn phóng viên Báo QĐND được quyết định ông Phú Bằng bảo tôi rằng kinh phí cho đoàn nhà báo chưa có phía ta đã đề nghị Liên Xô đảm trách toàn bộ chi phí cho chuyến đi làm việc còn chờ bạn trả lời. Ông cũng nói thêm nếu kinh phí eo hẹp Báo QĐND sẽ phải rút bớt một phóng viên. Tôi hiểu khi đó tôi sẽ ở lại. Cuối cùng thì bạn cũng đồng ý phía Liên Xô sẽ chi toàn bộ cho chuyến đi công tác dài một tháng của các nhà báo Việt Nam
.
     
Thế giới đều phải thừa nhận trình độ cao của các nhà khoa học xô viết. Còn trình độ khoa học của Việt Nam ngày ấy với một cái nhìn lạc quan thì cũng phải mấy chục năm sau mới đuổi kịp trình độ chung của thế giới. Và vì thế người ta không thể không đặt ra câu hỏi Việt Nam sẽ đóng góp gì cho Chương trình nghiên cứu vũ trụ? Sẽ ứng dụng những thành quả nghiên cứu như thế nào về chất siêu dẫn về sự sinh trưởng của bèo dâu về tác dụng tăng lực của cây đinh lăng- một số chương trình nghiên cứu mà phía Việt Nam
tham gia? Vấn đề của vấn đề chính là giá trị thực tiễn của chương trình nghiên cứu chứ không chỉ nhằm mỗi một mục đích truyên truyền. Đó cũng là câu hỏi mà chúng tôi mang theo suốt cả hành trình.
     
Sau hai lần hạ cánh ở Bom Bay (Ấn Độ) và ở Trung Á tới Ma-xcơ-va chúng tôi được bố trí ở khách sạn Hoà Bình (Mir) khách sạn của khối SEP bên bờ sông Ma-xcơ-va nhìn sang khách sạn U-cơ-ra-i-na với bức tượng thi hào Sep-tren-cô quen thuộc. Đây là lần thứ hai tôi đến Ma-xcơ-va lần trước vào năm 1964 với tư cách một lưu học sinh quân sự tôi đã qua Ma-xcơ-va để đi Ki-ép quê hương của nhà thơ xuất thân nông nô này. Thành phố Ma-xcơ-va cổ kính luôn hấp dẫn tôi không chỉ bởi những bài hát tôi đã nghe từ thủa học sinh trung học bởi những cuốn tiểu thuyết mà tôi đã đọc thâu đêm. Nó còn hấp dẫn tôi bởi đó là nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng những nhà khoa học cùng những phát minh khoa học vĩ đại nơi những thành tựu khoa học làm vẻ vang danh hiệu Con Người nơi phi công vũ trụ Ga-ga-rin từ ngoài khoảng không bao la trở về đã được đón tiếp như một người anh hùng một siêu nhân nơi khi ấy đang là mơ ước của nhiều người thế hệ chúng tôi. Giữa năm 1999   có dịp trở lại thủ đô của đất nước Nga vĩ đại giữa lúc lục địa này đang chìm trong những biến động chính trị phức tạp ông Pri-ma-cốp vị thủ tướng đang được lòng dân phải ra đi ông Stê-pa-sin đang phải đối mặt với cuộc bỏ phiếu phê chuẩn Thủ tướng. Các bạn bè Việt Nam đang sống ở Ma-xcơ-va ra đón chúng tôi ở sân bay quốc tế Sê-rê-mét-tơ-vô đã miêu tả cái không khí bồn chồn lo lắng cái không khí sốt ruột chờ đợi ấy chân xác đến mức tôi có thể cảm thấy rõ hơi thở nóng hổi của những sự kiện. Thật may ông Stê-pa-sin đã vượt qua được cuộc bỏ phiếu. Ma-xcơ-va không bị thiết quân luật như người ta đồn đại. Buổi sớm thức dậy ở nhà khách của Sứ quán ta lắng nghe tiếng chim ríu rít trong cái nắng vàng ong tôi cảm thấy yêu biết bao sự yên bình. Những ngày lưu lại Thủ đô nước Nga tôi đã gắng đi tìm dấu vết của những kỉ niệm xưa- cái khách sạn mà tôi từng ở nhưng Ma-xcơ-va dưới thời thị trưởng Lu-xcốp đã được cải tạo và xây dựng thêm nhiều những tượng và nhà thờ với tháp chuông giát vàng cảnh mới dường như đã làm thay đổi mọi thứ chỉ có giòng sông Ma-xcơ-va là bình thản trôi.
     
Sang sau chúng tôi ít ngày là đoàn nhà báo Việt Nam đi viết về Olimpic Ma-xcơ-va trong đó có đại diện Báo QĐND là Phó Tổng biên tập nhà báo Nghiêm Túc. Các nhà báo có thẻ tham gia Ô-lim-pic được đi xe công cộng miễn phí. Từ khách sạn Nước Nga ông Nghiêm Túc đi xe buýt đến thăm chúng tôi ở khách sạn Hoà Bình nhân đó trao đổi về những chuyện nghề nghiệp. Chúng tôi ai cũng thấy viết về chuyến bay vũ trụ thật khó: Tên lửa đẩy hiện đại con tầu xa lạ đầy chất huyền thoại những thí nghiệm khoa học phức tạp với nhiều bí mật những chuyện xẩy ra ở trên trời bãi phóng nơi sa mạc ngôn ngữ bất đồng. Trong khi đó kĩ thuật truyền hình sẽ giúp người xem chứng kiến tức thời mọi diễn biến của cuộc bay... Báo viết làm sao theo kịp. Chúng tôi cũng không có điều kiện như các nhà báo Cu-ba được kiến tập chuyến bay Việt-Xô sau đó mới làm tường thuật chuyến bay Cu-ba -- Liên Xô. Phương tiện thông tin liên lạc khi đó cũng chưa phát triển như bây giờ tiền lại càng không có. Ông Nghiêm Túc bảo tôi nếu khó khăn thì hãy gắng thu thập tư liệu về nước sẽ viết cái gì đó sâu và có chất văn học.
     
Trước khi lên đường người phụ trách trực tiếp dặn tôi tuỳ cơ ứng biến bởi vì đây là một một sự kiện lớn nhưng việc tuyên truyền ta chưa có kinh nghiệm có bài tường thuật bám sát sự kiện thì tốt không có cũng không sao trở về viết kĩ hơn cũng được. Lãnh đạo nói như thế là đã lường trước mọi khó khăn đồng thời cũng mở cho tôi lối thoát. Mặc dù vậy chúng tôi tự nghĩ do nhu cầu tự nhiên của tờ báo rất cần phải có những bài tường thuật trực tiếp của phóng viên bằng cách đó mới làm nổi rõ bản sắc tờ báo của mình. Ông Phú Bằng khi đó là trưởng phòng Văn hoá- Văn nghệ lẽ dĩ nhiên ông sẽ khai thác mọi khía cạnh văn hoá của sự kiện còn tôi là phóng viên của phòng biên tập quân sự trách nhiệm chủ yếu của tôi- theo tôi hiểu- là phải khai thác thông tin cho bạn đọc hiểu biết về bản chất của sự kiện: ý nghĩa khoa học và kinh tế của việc Việt Nam hợp tác nghiên cứu khoảng không vũ trụ với Liên Xô như trên tôi đã nói.
     
Mặc dù có bằng tốt nghiệp đại học khoa học nhưng những vấn đề của khoa học nghiên cứu vũ trụ đối với tôi là vô cùng mới mẻ buộc phải tự học tự tìm hiểu. Có mặt ở Ma-xcơ-va trước ngày phóng con tầu Liên hợp ba tuần là một thuận lợi cần phải được triệt để lợi dụng. Ông Phú Bằng và tôi đã đến thăm báo Sao đỏ cơ quan của Bộ Quốc phòng Liên Xô thăm phòng Biên tập du hành vũ trụ. Người đồng nghiệp của tôi đại tá Rê-brốp đã tận tình giúp đỡ bằng cách cung cấp cho tôi nhiều tài liệu và cả những cuốn sách viết về con tầu Liên hợp cùng các chuyến bay trước đó (trong đó một số cuốn sách do Rê-brốp viết). Chuyến đi cùng các nhà báo Cu-ba về thành phố Ca-lu-ga quê hương Xi-ôn-cốp-xki người được mệnh danh là cha đẻ của ngành vũ trụ thăm viện bảo tàng vũ trụ cũng như chuyến thăm thành phố Ngôi sao nơi các phi công vũ trụ Việt Nam đang sinh sống và luyện tập cùng với các phi công vũ trụ Xô viết đối với chúng tôi thật là bổ ích. Những điều học hỏi được khiến tôi cảm thấy tự tin.
     
Tôi còn nhớ thành phố Ngôi sao nằm ở ngoại ô Ma-xcơ-va với nhiều khoảnh rừng bạch dương nơi có Trung tâm Ga-ga-rin chuyên huấn luyện và đào tạo các phi công vũ trụ được thành lập từ năm 1960. Các nhà du hành vũ trụ quốc tế được dào tạo ở đây là V. Rê-mếc (Tiệp Khắc) V.Ghec-man-sép-xki (Ba Lan) Z. I-ên (CHDC Đức) Gh. I-va-nốp (Bun-ga-ri) B. Pha-rơ-cát (Hung-ga-ri). Gia đình Phạm Tuân và Bùi Thanh Liêm được bố trí ở thành phố Ngôi sao được hưởng một số ưu đãi: Chẳng hạn lương thực thực phẩm và một số mặt hàng có giá rẻ hơn.
     
Sơ đồ của chuyến bay được vạch ra như sau: Con tầu Liên hợp- 37 mang các nhà du hành vũ trụ Go-rơ-bát-cô và Phạm Tuân sẽ được phóng lên quĩ đạo từ sân bay vũ trụ Bai- côn- nua và lắp ghép với tổ hợp vũ trụ trạm Chào mừng-6 -- Liên hợp-36 nơi đã có hai nhà du hành vũ trụ Ri-u-min và Pô-pốp đang làm việc.
     
Trước ngày phóng con tầu vũ trụ ông Phú Bằng cùng một đoàn phóng viên bay đi Ca-dắc-tan. Tôi được phân công ở lại Ma-xcơ-va theo dõi chuyến bay từ Trung tâm điều khiển các chuyến bay.
     
Và ngày trọng đại đã đến ngày 23/ 7/ 1980 đáng nhớ. Vào lúc 21 giờ 33 phút giờ Ma-xcơ-va con tầu vũ trụ Liên hợp- 37 mang theo chỉ huy con tầu- nhà du hành vũ trụ Go-rơ-bát-cô và phi công- nhà nghiên cứu vũ trụ Phạm Tuân đã được phóng đi từ sân bay Bai-côn-nua. Tại trung tâm điều khiển các chuyến bay chúng tôi tập trung ở gian chính nơi có cái màn hình cực to chuyên dùng để theo dõi quĩ đạo của con tầu theo dõi những buổi truyền hình trực tiếp từ vũ trụ về trái đất vào bất cứ lúc nào trừ khi con tầu khuất sau trái đất trung tâm không nhìn thấy được. Lúc ấy tôi dán mắt vào màn hình rực sáng bó lửa do động cơ tên lửa phun ra kéo dài ít giây sau đó thì mất hút. Bất ngờ cả Trung tâm vang lên những tràng pháo tay. Còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì thì một người bạn Nga ôm lấy tôi bảo rằng thành công rồi con tầu đã bay vào đúng quĩ đạo. Tất cả chỉ ngắn ngủi trong vòng 20 giây. Đến lúc này tôi mới hiểu mặc dù đã chuẩn bị rất kĩ càng với sự lao động miệt mài của hàng trăm nhà bác học và hàng ngàn cán bộ kĩ thuật mặc dù đã được luyện tập gian khổ hàng năm trời thì mỗi một lần phóng con tầu vũ trụ lên quĩ đạo là một lần phải đối mặt với thử thách là một lần mạo hiểm là một lần có thể phải chịu đựng rủi ro mà tổn thất là không lường được.
     
Trước ngày phóng con tầu chúng tôi đã về thăm huyện Kiếc-giắc ngoại ô Thủ đô Ma-xcơ-va nơi nhà du hành vũ trụ đầu tiên của loài người I-u-ri Ga-ga-rin cùng người đại tá bạn bay của mình hi sinh trong một chuyến bay tập. Giữa cánh rừng bạch dương cao vút với những thân cây lấp loáng nắng người ta đã dựng nên một tấm bia tưởng niệm. Những tổ chim do các em bé Nga làm treo trên thân cây bạch dương lúc nào cũng đầy ắp tiếng hót. Dưới chân đài tưởng niệm đỏ rực những cánh hoa tươi. Đứng bên đài kỉ niệm ngẩng lên nhìn tôi thấy một khoảng sáng kéo dài. Người hướng dẫn bảo đó là vệt cây bạch dương bị phạt gẫy khi chiếc phản lực của Ga-ga-rin lao xuống đất. Trong cuộc sống những rủi ro là khó tránh khỏi. Tôi vẫn không quên cái cảm giác tiếc nuối và choáng váng khi nghe tin Bùi Thanh Liêm bị tử nạn trong một chuyến bay tập ở vùng biển S. Tôi tiếc cho người con trai Hà Nội giỏi giang không được số phận ưu đãi. Nếu anh được bay vào vũ trụ nếu anh còn sống tương lai của anh sẽ thế nào? Ai mà biết được. Sau này một số cán bộ công tác ở không quân có nói với tôi rằng cái kết cục bi thảm ấy chỉ diễn ra trong tích tắc. Khi chiếc máy bay siêu thanh bổ nhào với tốc độ lớn mặc dù bộ phận lái được chế tạo tinh xảo và tin cậy mặc dù chiếc cần lái linh hoạt nhưng chỉ cần phi công kéo cần lái chậm một tích tắc tất cả đều có thể sẽ kết thúc. Bi kịch của tài năng cũng ở chỗ tích tắc này. Người phi công kéo cần lái sớm một tích tắc sẽ an toàn nhưng đường bay không đẹp. Kéo cần lái chậm sau một tích tắc là sẽ gặp sự nguy hiểm chết người. Bùi Thanh Liêm có máu nghệ sĩ vì thế anh ưa sự hoàn thiện thích theo đuổi cái đẹp. Vì thế anh đã mạo hiểm chăng? Cái ngày Bùi Thanh Liêm hy sinh có phải là cái ngày mà tâm trí anh tình cảm của anh sức khoẻ của anh có gì đó không ổn để dẫn đến cái tích tắc vĩnh cửu không bao giờ sửa chữa được không? Không ai biết ngoài anh. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Ga-ga-rin sau khi nghiên cứu hộp đen được xác minh là do trục trặc kĩ thuật. Để tránh tai hoạ cho dân chúng thành phố các phi công đã không bỏ máy bay nhẩy dù mà cố gắng điều khiển để máy bay thoát ra khỏi khu vực đông người. Và họ đã hy sinh cùng máy bay. Đó cũng chỉ là một cách giải đáp. Cái chết của Bùi Thanh Liêm trong một chuyến bay tập được kể lại theo nhiều cách khác nhau. Sự thực luôn bị che bởi những lớp sương mờ mờ ảo ảo. 
     
Trung tâm điều khiển các chuyến bay nằm ở thành phố Ca-li-nin-grát cách trung tâm thủ đô Ma-xcơ-va không xa. Có thể nói đó là một thành phố quân sự được bảo vệ hết sức chu đáo. Thẻ ra vào Trung tâm của phóng viên được thay đổi hàng ngày và chỉ cho phép phóng viên ra vào đúng những nơi qui định. Khi con tầu được đặt đúng vào quĩ đạo được đánh dấu bằng những tràng pháo tay kéo dài nhiều phút tất cả các nhà báo nhà khoa học có mặt tại trung tâm điều khiển liền ồn ào kéo nhau vào một phòng rộng để ăn mừng. Những chai rượu lúa mới và vốt ca thay nhau mở. Những lời chúc tụng tốt đẹp. Những nụ cười đọng ở trên môi. Tôi đã uống vì niềm tự hào mình là một người Việt Nam
. Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết say rượu là như thế nào.
     
Chuyến bay kéo dài bẩy ngày mỗi vòng quanh trái đất mất khoảng 1 giờ 30 phút. Phải sau một ngày con tầu Liên hợp-37 mới lắp ghép với tổ hợp vũ trụ: Trạm Chào mừng- 6 và tầu Liên hợp-36. Từ ngày 25-7 các phi công bắt đầu làm các thí nghiệm khoa học về y học về vật lí về công nghệ... Các cuộc truyền hình từ con tầu về mặt đất được tiến hành hàng ngày. Vào 20 giờ 42 giờ Ma-xcơ-va ngày 26 cuộc họp báo trên vũ trụ được giành riêng cho Truyền hình Việt Nam. Một tuần trôi qua rất nhanh cho đến 17 giờ 50 ngày 31-7 tổ hợp vũ trụ đã bay được 125 vòng các phi công vũ trụ Go-rơ-bát-cô và Phạm Tuân chuyển sang con tầu Liên hợp-36 tách khỏi tổ hợp và chuẩn bị hạ cánh. Vào lúc 19 giờ 25 cùng ngày thảo nguyên Ca-dắc-xtan đầy gió và hoa đã giang rộng cánh tay chào đón những người con của trái đất từ vũ trụ trở về.
     
Tất cả những gì giống như những nước sơn bóng đều đã phai nhạt còn lại là cái lõi của sự kiện thật đáng ghi nhớ./.
                                                                                                   HPP